Showing posts with label Popular Indicator. Show all posts
Showing posts with label Popular Indicator. Show all posts

Sunday, 26 December 2010

Các mô hình kinh điển: Mô hình hai đáy, mô hình hai đỉnh

Double bottom (Mô hình hai đáy) 
Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứ hai). Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá, nó mang tính đảo chiều. Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất dễ nhầm do đó nhà đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này. Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xác xuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện "breakout" (đảo chiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%.

Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề: đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhất phải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng.

Double top (Mô hình hai đỉnh)

Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá vàng hình thành hai đỉnh trên biểu đồ. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng vàng rơi xuống dưới mức  đáy (điểm dưới cùng của đáy) của toàn mô hình. Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá vàng– nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng giá trong hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá). Vì đây là mô hình rất hay thường gặp và rất dễ nhận ra nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xem xét một cách cẩn then. Bolkowski ước tính mức thất bại của mô hình này là 65% nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì mức rủi ro giảm xuống còn 17%.


Falling wedge (Mô hình cái nêm hướng xuống):

Mô hình Falling wedge là một hình mẫu kỹ thuật dạng bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), mô hình bắt đầu thì biên khoảng cách giữa hai đường xu thế rộng sau đó độ rộng giảm dần khi giá chứng khoán giảm. Sự biến động của giá hình thành một hình chóp nón hướng xuống dưới do các đỉnh và đáy dần hội tụ. Hình mẫu kỹ thuật Falling wedge trượt hướng xuống phía dưới và có dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), tuy nhiên dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá) này sẽ không thể được nhận ra cho đến khi có "breakout" (đảo chiều xu thế ) khỏi đường kháng cự. Khi mô hình mang tính continuation (tiếp tục xu thế của thị trường), thì Falling wedge vẫn sẽ hướng xuống dưới và xu hướng này ngược với xu thế của thị trường hiện tại. Khi nó mang tính reversal (đảo ngược với xu thế của thị trường), thì Falling wedge hướng trượt xuống dưới cùng với xu thế của thị trường. Nhưng cho dù Falling wedge thuộc loại nào thì nó vẫn là hình mẫu kỹ thuật báo hiệu sự tăng giá!



Head and shoulders top (hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai)

Đỉnh đầu vai là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu tư vì nó là một hình mẫu kỹ thuật đáng tin cậy nhất trong tất cả những hình mẫu kỹ thuật được trình bày trong đề tài nghiên cứu này, đồng thời nó cũng thường được nhận ra một cách dễ dàng. Những nhà phân tích kỹ thuật ít kinh nghiệm thường mắc lỗi đối với hình mẫu kỹ thuật này vì họ nhận thấy nó xuất hiện khá phổ biến trên biểu đồ. Những nhà phân tích kỹ thuật chuyên nghiệp thường nhận biết hình mẫu kỹ thuật này thông qua những biến cố thực sự. Đỉnh đầu vai là loại hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu thế của thị trường. Nó là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự đảo chiều của xu thế biến động giá vàng từ xu thế tăng giá chuyển thành xu thế giảm giá.
Hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai thực ra là sự mô phỏng theo hình dáng đầu và hai vai của con người, hình mẫu gồm ba đỉnh cao nhọn được tạo bởi ba điểm khôi phục - tăng giá trở lại sau khi giá giảm trong sự biến động của giá chứng khoán. Đỉnh đầu tiên – vai trái – xuấn hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh của nó và sau đó giảm xuống. Đỉnh thứ hai – cái đầu- xảy ra khi giá vàng tăng lên đến một đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống. Đỉnh thứ ba – vai phải – xuất hiện khi giá vàng tăng một lần nữa nhưng không cao bằng đỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó. Đỉnh của hai “vai” chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu”. Trong mô hình phân tích cổ điển thì hai đỉnh của hai vai phải cân bằng với nhau nhưng điều quan trọng nhất quyết định của mô hình này đó chính là đường nối hai đáy của hai vai gọi là đường “vòng cổ” – neckline – mô hình sẽ bị phá vỡ khi đường vòng cổ bị xuyên chéo bởi giá vàng và giá vàng tiếp tục giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline – các chuyên viên Phân tích kỹ thuật cho rằng mô hình không được khẳng định là đúng cho tới khi giá vàng giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline.



Rounding bottom (hình mẫu kỹ thuật đáy vòng cung)

Rounding bottom là một hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu hướng biến động thị trường – reversal – dài hạn, nó thường được dùng để phân tích với biểu đồ hàng tuần. Nó đại diện cho một thời kỳ củng cố dài hạn trong xu thế biến động của giá vàng, nó là mô hình chuyển tiếp từ một khuynh hướng giảm giá liên tục – Bearish – sang một khuynh hướng tăng giá mạnh – bullish. Sự xác nhận của khuynh hướng tăng giá mới – bullish – khi khuynh hướng biến động giá vàng vượt qua đường miệng của vòng cung, nó đánh dấu một khuynh hướng mới trong quá trình biến động của giá vàng, như một mức hỗ trợ của sự đột biến giá vàng, đường này cũng được coi là mức kháng cự của xu thế mới. Tuy nhiên, Rounding bottom đại diện cho sự đảo chiều của sự biến động giá chứng khoán trong dài hạn và mức hỗ trợ mới cũng trở thành không mấy quan trọng nữa.



Triple bottom (hình mẫu kỹ thuật ba đáy)

Mô hình ba đáy được hình thành bởi ba đáy phụ riêng biệt với mức xấp xỉ bằng nhau. Mô hình ba đáy được xem như là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai ngược, mô hình ba đáy là hình mẫu dạng đảo ngược xu thế biến động của thị trường. Thứ duy nhất để phân biệt giữa mô hình ba đáy và mô hình đỉnh đầu vai ngược đó chính là đỉnh - “đầu” – nằm giữa hai “vai”. Mô hình ba đáy biểu diễn xu thế giảm xút trong quá trình nó trở thành một xu thế tăng giá. như vậy nó chỉ còn hợp lệ khi nó vẫn trong quá trình giảm xút so với hai đỉnh ở giữa hay là nó chưa đi xuyên chéo qua đường vòng cổ – neckline – vượt qua mức kháng cự của mô hình. Bởi vì hình mẫu kỹ thuật này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật khác cho nên cach chuyên viên phân tích khuyên rằng để ứng dụng mô hình này một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình đầu tư, chúng ta nên chờ đợi một dấu hiệu "breakout" một cách rõ ràng thông qua sự xuyên chéo của đường biểu diễn giá chứng khoán với đường kháng cự của mô hình – neckline – trước khi nhận định đây có phải thực sự là hình mẫu kỹ thuật dạng “ba đáy” hay không



Triple top (hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh)

Mô hình ba đỉnh được xem là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai. Tương tự như mô hình “ba đáy” thứ duy nhất để phân biệt một cách rõ ràng giữa mô hình này với mô hình đỉnh đầu vai đó chính là đỉnh “đầu” nằm giữa hai “vai”, trong mô hình “ba đỉnh” thì ba đỉnh xấp xỉ cao bằng nhau, nhưng trong mô hình “đỉnh đầu vai” thì hoàn toàn khác, đỉnh đầu cao hơn hẳn so với hai vai hai bên. Như hình minh hoạ ở bên dưới thì mô hình “ba đỉnh” được hình thành từ ba đỉnh sắc nhọn, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau. Một đỉnh trong bộ ba xuất hiệ khi giá vàng đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giá lên tới mức kháng cự của mô hình sau đó giá vàng giảm xuống mức hỗ trợ của mô hình, sau đó xuất hiện sự tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngang bằng với mức kháng cự của mô hình và lại giảm xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cự thứ ba trước khi giá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng xuống dưới mức hỗ trợ của mô hình. Hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị trường nó đánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá. Điều kiện đầu tiên của mô hình đó là phải được bắt đầu băng một xu thế tăng giá. Các chuyên viên phân tích khuyên rằng nhà đầu tư nên đợi sự xuất hiện của sự xuyên chéo giữa đường biểu diễn giá vàng với đường hỗ trợ của mô hình – neckline – một cách rõ ràng. nếu giá vàng không giảm mạnh sau sự xuất hiện đỉnh thứ ba thì đó không phải là mô hình “ba đỉnh”. Đôi khi trong thực tế mô hình “ba đỉnh” không thực sự xảy ra một cách hoàn hảo ví dụ như ít khi ba đỉnh có độ cao xấp xỉ bằng nhau, mà sự bằng nhau chỉ mang tính chất có sự sai lệch có thể chấp nhận được

Lý thuyết Dow - nền tảng của phân tích kĩ thuật (Phần 2)

Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị trường. Mặc dù nó thường bị coi là trễ so với thị trường và bị những người chống đối dựa vào đó để chỉ trích nhưng nó vẫn được đông đảo những người có quan tâm đến và tôn trọng. Rất nhiều người, dù ít hay nhiều có sử dụng lý thuyết này cho việc đề ra cho riêng mình một quan điểm đầu tư đều không nhận ra một điều là bản chất của Lý thuyết Dow là hoàn toàn mang “tính kỹ thuật”.
 7.  Bear Market (Thị trường con gấu - thị trường giảm giá)
Xu thế giảm giá của thị trường cũng được chia thành ba thời kỳ. Thời kỳ đầu tiên là thời kỳ “phân bổ” (thời kỳ này thực sự bắt đầu ở giai đoạn cuối của Bull Market trước đó). Trong thời kỳ này những nhà đầu tư có tầm nhìn xa đều nhận thấy rằng doanh thu (và các chỉ số kinh doanh nói chung) của những công ty mà họ đang nắm giữ cổ phiếu đều đang đạt mức cao không bình thường và họ muốn nhanh chóng thoát khỏi vị thế sở hữu cổ phiếu của những công ty này. Khối lượng giao dịch vẫn rất cao mặc dù đã có những dấu hiệu của xu hướng giảm, công chúng vẫn rất “năng động” nhưng cũng bắt đầu có dấu hiệu lo lắng và cũng không còn nhiều kỳ vọng kiếm lợi nhuận.

Thời kỳ thứ hai được gọi là thời kỳ "hỗn loạn". Số lượng người mua bắt đầu giảm dần và những người bán bắt đầu trở lên vội vã bán đi những cổ phiếu mình đang nắm giữ. Xu thế giảm giá bắt đầu tăng mạnh làm đồ thị giá gần như dốc thẳng xuống và khối lượng giao dịch đạt đến mức đỉnh điểm. Giai đoạn này được gọi là hỗn loạn vì sự sụt giảm thường xảy r
a rất trầm trọng thậm chí là thái quá với mức độ vượt quá cả thực trạng của các doanh nghiệp. Sau giai đoạn hỗn loạn có thể có giai đoạn hồi phục (một dạng xu thế cấp hai) hoặc một giai đoạn dao động ngang của đồ thị thị trường (các dao động không có hướng đi lên hay đi xuống mà là dao động trong một khoảng cố định theo chiều ngang của thị trường) trong một thời gian tương đối dài. Giai đoạn này thể hiện tâm lý chán nản của một bộ phận nhà đầu tư, họ cũng chính là những người đã cố gắng nắm giữ cổ phiếu qua thời kỳ hỗn loạn trước đó hoặc cũng có thể là những người đã mua cổ phiếu trong thời kỳ đó bởi vì lúc đó giá của cổ phiếu rõ ràng là rẻ hơn rất nhiều so với trước đó vài tháng. Thông tin về các doanh nghiệp ngày càng xấu đi. Kết thúc giai đoạn này mới bước vào thời kỳ thứ ba.

Vào thời kỳ thứ ba, xu thế đi xuống trên thị trường đã yếu dần, nhưng lại được duy trì bởi những lệnh bán nhiều và liên tục thể hiện “nỗi buồn” và sự lo lắng của những nhà đầu tư đang rất cần tiền cho những nhu cầu riêng của họ. Các cổ phiếu đều giảm đến mức thấp nhất, thậm chí gần như mất hoàn toàn giá trị. Những cổ phiếu có chất lượng cao hầu như không được giao dịch vì những người sở hữu chúng đều muốn nắm giữ đến cùng. Ở giai đoạn cuối của Bear Market, như một kết quả của toàn bộ thời kỳ giảm giá trước, cả thị trường chỉ tập trung vào giao dịch một số loại cổ phiếu. Bear Market kết thúc tất cả với những tin xấu về các doanh nghiệp, về thị trường ở mức có thể coi là tồi tệ nhất đã thể hiện ra và có thể đến.

8.  Hai đường chỉ số bình quân của thị trường phải cùng xác nhận xu thế của thị trường. Đây là câu hỏi thường xuyên đặt ra nhất và cũng khó giải thích nhất đối với hệ thống các nguyên lý của lý thuyết Dow. Tuy nhiên từ khi được đưa ra cho đến nay nó đã được thời gian chứng minh tính đúng đắn và nó vẫn được vận dụng cho đến ngày nay và bất kì một ai đã xem xét những số liệu ghi lại thì đều không thể có ý kiến phản đối với nguyên lý này. Còn với những người ít quan tâm hay bỏ qua nguyên lý này thì trong thực tế kinh doanh đã và sẽ phải nhiều lần cảm thấy tiếc nuối. Điều nguyên lý này muốn nói đến là không thể có một dấu hiệu chính xác nào về sự thay đổi xu thế thị trường có thể được khẳng định chỉ thông qua xem xét biến động của duy nhất một loại chỉ số bình quân (ở đây muốn nói đến những thị trường bao gồm nhiều chỉ số bình quân, chẳng hạn như ở Mỹ, như nói ở phần đầu, có hai loại chỉ số bình quân). 
 
·         Chỉ số bình quân bên dưới chỉ ra thị trường đi xuống
·         Chỉ số bình quân phía trên chỉ ra thị trường đi lên
Như vậy thị trường sẽ vẫn đi xuống do cả hai không cùng xác nhận một sự đảo chiều trong xu thế hiện tại của thị trường. 

Chỉ khi nào cả chỉ số bình quân cũng chỉ ra là thị trường đang có xu thế đi lên thì ta mới có cơ sở xác nhận một dấu hiệu về sự đổi chiều của xu thế chính. Trong hình vẽ trên, trừ khi có một biến động nào khác nếu không chỉ duy nhất chỉ số bình quân bên dưới sẽ không để chuyển hướng chung của thị trường mà thậm chí còn bị kéo xuống. Xu thế cấp 1 của thị trường rõ ràng vẫn chưa rõ ràng. Đây là một ví dụ áp dụng nguyên lý về sự xác nhận. Không cần thiết cả hai chỉ số bình quân phải cùng xác nhận vào 1 ngày. Thường thì cả hai chỉ số này sẽ cùng chuyển động đến cùng một khoảng đỉnh hoặc đáy mới, nhưng có nhiều trường hợp mà một trong hai chỉ số sẽ trễ hơn chỉ số kia vài ngày, vài tuần, thậm chí là một đến hai tháng. Trong những tình huống như vậy thì nhà đầu tư phải giữ kiên nhẫn và đợi cho đến khi thị trường thật sự thể hiện ra bản chất xu hướng của nó.

9.  Khối lượng giao dịch áp dụng kèm với xu thế thị trường. 
Điều này thể hiện một thực tế là khi giá biến động theo đúng xu thế cấp 1 thì các họat động kinh doanh trên có xu hướng mở rộng hơn. Do vậy, với Bull Market, khối lượng giao dịch sẽ tăng nếu giá tăng, và sẽ thu lại nếu giá giảm; với Bear Market giá trị giao dịch sẽ tăng nếu giá giảm và ít khi giá có dấu hiệu phục hồi. Điều này vẫn đúng ở mức độ thấp hơn tức là với những xu thế cấp 2, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của một xu thế hồi phục cấp 2 trong một Bear Market, khi mà các diễn biến của thị trường chỉ ra rằng giá sé tăng lên theo một số đợt tăng giá nhỏ, còn các biến động kéo giá xuống giảm đi. Các kết luận ở đây thường không có giá trị  nếu chỉ dựa trên diễn biến trong vài ngày và càng không có giá trị với những kết luận dựa trên một phiên giao dịch đơn lẻ. Nguyên lý này chỉ phát huy hiệu quả nếu dựa trên những diễn biến của khối lượng giao dịch chung trong thời gian giao dịch tương đối dài. Hơn nữa, theo Lý thuyết Dow thì chỉ dựa trên những phân tích về giá mới có thể đưa ra được những dấu hiệu mang tính quyết định về xu thế thị trường, còn khối lượng giao dịch chỉ có thể cung cấp thêm những chứng cứ phụ để giải thích rõ hơn biến động của thị trường và sử dụng vào những tình huống khi dấu hiệu chính tỏ ra còn nhiều nghi ngờ.
 
10.  Đường ngang có thể thay thế cho các xu thế cấp 2.
Đường ngang theo định nghĩa của Lý thuyết Dow là những chuyển động ngang có tính chất trung gian của thị trường phản ánh thời kỳ mà giá biến động rất ít (với thị trường Mĩ là nhỏ hơn hoặc bằng 5%). Đường ngang thường kéo dài từ 2 đến 3 tuần hoặc đôi khi là lâu hơn (trong vài tháng). Khi thị trường xuất hiện mô hình dạng đường ngang, điều này chỉ ra rằng áp lực của cung và cầu trên thị trường là tương đối cân bằng. Thực tế trong giai đoạn này các lệnh đặt mua hoặc bán đều thể hiện một sự kiệt sức. Những người muốn mua cổ phiếu thì phải tăng mức giá chào mua để khuyến khích người có cổ phiếu mà họ muốn bán cho họ, còn những người muốn bán thì với thị trường có biến động dạng đường ngang họ thấy rằng số lượng người mua đang ít dần và kết quả là họ phải giảm giá để có thể bán được những cổ phiếu của mình. Do vậy một mức giá dao động vượt ra ngoài mức dao động của mô hình đường ngang đang xuất hiện trên thị trường sẽ là một dấu hiệu rõ ràng cho một thị trường lên hoặc xuống giá tùy thuộc vào hướng của dao động vượt ra ngoài. Nhìn chung mô hình đường ngang càng kéo dài lâu và biên độ dao động càng nhỏ thì  ý nghĩa của dao động vượt ra ngoài mô hình đường ngang càng lớn. 


Mô hình đường ngang thường diễn ra dài vừa đủ để khoảng thời gian tồn tại của nó mang một ý nghĩa quan trọng đối với những người phân tích thị trường theo trường phái Dow. Những biến động vượt ra ngoài mô hình đường ngang có thể là dấu hiệu cho thấy mô hình này chính là những mức đỉnh hoặc đáy rất quan trọng của  thị trường bởi nếu là đỉnh thì đó chính là giai đoạn “phân bổ” - giai đoạn ban đầu của một  Bear Market; còn nếu dấu hiệu cho thấy nó có thể là mức đáy của thị trường thì đây là giai đoạn “tích tụ” - giai đoạn đầu của một Bull Market. Thông thường nhất, nó đóng vai trò như một thời kỳ yên tĩnh thuộc giai đoạn cuối cùng trong quá trình hình thành hoặc thuộc giai đoạn củng cố xu thế cấp 1 của thị trường. Trong những trường hợp đó mô hình này đóng vai trò như những sóng cấp 2. Mức biến động 5% cũng hoàn toàn chỉ là một mức biên độ được xác định theo kinh nghiệm bởi trên thực tế rằng mô hình đường ngang có rất nhiều điểm tương đồng với mô hình cũng có nhiều biến động ngang với biên độ lớn hơn nhưng hai biên của nó vẫn được xác định khá rõ ràng và tương đối chuẩn nên cũng được tính là một loại mô hình đường ngang.

11.  Chỉ sủ dụng mức giá đóng cửa để nghiên cứu. 
Lý thuyết Dow không quan tâm và ít đề cao đến các mức biến động giá (thậm chí là cả mức giá cao nhất và thấp nhất) trong ngày mà chỉ quan tâm đến những số liệu cuối ngày giao dịch, chẳng hạn như mức bình quân giá bán cuối cung trong ngày.

Xem xét một thị trường với xu thế cơ bản là tăng giá và đang ở thời điểm giá tăng và đạt mức đỉnh của ngày hôm đó vào 11 giờ sáng, giả sử lúc đó chỉ số bình quân đang là 152.45 sau đó lại giảm xuống mức giá đóng cửa là 150.70. Để có thể xác nhận thị trường vẫn đang trong xu thế cơ bản là tăng giá thì ở đợt tăng giá tiếp theo mức giá đóng cửa phải cao hơn 150.70. Trong trường hợp này mức đỉnh 152.45 không được quan tâm đến. Trái lại nếu ở đợt thứ 2, dù giá có đạt đến mức đỉnh ở 152.60 nhưng giá đóng cửa lại nhỏ hơn 150.70 thì hoàn toàn có cơ sở để nghi ngờ liệu xu thế tăng giá hiện tại có còn tiếp tục hay không.

Trong những nắm gần đây, nhiều ý kiến đã được đưa ra xung quanh vấn đề liệu chỉ số giá bình quân phải tăng thêm hay giảm đi bao nhiêu so với giới hạn đạt được của đợt dao động giá trước (đỉnh hoặc đáy) để có thể báo hiệu (xác nhận một xu thế mới hoặc xác nhận lại xu thế hiện tại) xu thế thị trường. Dow và Hamilton luôn rất cẩn thận trong việc xem xét bất cứ một dao động nhỏ nào xen vào xu thế hiện tại làm giá thay đổi thậm chí đến 0. 01 và hai ông đều cho rằng dấu hiệu đó hoàn toàn có thể là một dấu hiệt đúng. Nhưng ngày nay nhiều nhà phân tích cho rằng mức thay đổi đó phải đạt ít nhất 1.00 mới có thể được coi là một dấu hiệu của thị trường.

12.  Một xu thế cần được giả định rằng vẫn đang tiếp tục cho đến khi có một dấu hiệu thực sự về sự đảo chiều của xu thế đó được xác định. 

Nguyên lý này là một trong những nguyên lý có nhiều ý kiến tranh cãi nhất. Nhưng khi được hiểu chính xác nó vẫn có giá trị rất lớn trong phân tích thị trường. Nguyên lý thứ mười hai giúp đề phòng với những thay đổi (phản ứng) quá sớm trong quan điểm về thị trường, theo như chúng ta hay nói là “cầm đèn chạy trước ô tô”, của bất kì nhà đầu tư nào. Điều này không nhằm làm nhà đầu tư trì hoãn hành động của mình lại một cách không cần thiết, cho dù là chỉ một phút, khi những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường là đã rõ ràng, nhưng nó nhắc nhở một điều rằng lợi thế sẽ nghiêng về phía những người biết chờ đợi cho đến khi họ chắc chắn về tình hình thị trường và rõ ràng sẽ không nghiêng về những người quá nôn nóng với hành động của họ. Khả năng xảy không thể được phát hiện một cách rõ ràng bởi bản chất của nó là những biến động thực tế của thị trường và chúng thay đổi thường xuyên. Bull Market không thể lên giá mãi và Bear Market thì sớm muộn cũng đạt đến đáy của nó. Khi một xu thế cấp 1 của thị trường vừa mới được hình thành thì cho dù có những dao động trong ngắn hạn ta vẫn có thể chắc chắn rằng nó không thay đổi, nhưng nếu nó kéo dài càng lâu thì mức chắc chắn càng ít dần đi, các điểm tái xác nhận xu thế thị trường cũng có giá trị ít dần đi. Động lực của người mua và khả năng bán được những cổ phiếu với giá cao hơn giá mua để kiếm lời sẽ ngày càng thấp nếu như Bull Market đã tồn tại trong nhiều tháng và rõ ràng là thấp hơn khi nó mới hình thành. Nguyên lý thứ mười hai của Dow nói rằng “Making your position pending contrary orders”.

Một hệ quả tất yếu từ nguyên lý này đó là khi đã có những dấu hiệu về sự thay đổi của xu thế thị trường thì sự thay đổi đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vì vậy bất cứ nhà đầu tư nào cũng cần phải theo dõi thị trường một cách thường xuyên.

Lý thuyết Dow - nền tảng của phân tích kĩ thuật (Phần 1)

Lý thuyết Dow là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị trường. Mặc dù nó thường bị coi là trễ so với thị trường và bị những người chống đối dựa vào đó để chỉ trích nhưng nó vẫn được đông đảo những người có quan tâm đến và tôn trọng. Rất nhiều người, dù ít hay nhiều có sử dụng lý thuyết này cho việc đề ra cho riêng mình một quan điểm đầu tư đều không nhận ra một điều là bản chất của Lý thuyết Dow là hoàn toàn mang “tính kỹ thuật”.
 Cơ sở để xây dựng cũng như đối tượng nghiên cứu của lý thuyết chính là những biến động của bản thân thị trường (thể hiện trong chỉ số trung bình của thị trường) và không hề dựa trên cùng cơ sở của Phân tích cơ bản là các thống kê hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 

Trong những ghi chép của người đầu tiên đề ra lý thuyết này, ông Charles. H. Dow, có rất nhiều điều chứng tỏ rằng tác giả không hề nghĩ lý thuyết của mình sẽ trở thành một công cụ dùng cho dự báo thị trường chứng khoán hay thậm chí nó đã trở thành một hướng dẫn chung cho các nhà đầu tư. Những ghi chép ấy chỉ nói lên rằng ông muốn lý thuyết của mình thành một thước đo biến động chung của thị trường. Dow thành lập công ty “Dịch vụ thông tin tài chính Dow-Jones” và được mọi người biết đến với việc tìm ra chỉ số bình quân thị trường chứng khoán. Những nguyên lý căn bản của học thuyết (ngày nay được đặt theo tên ông) đã được ông phác thảo ra trong một bài nghiên cứu mà ông viết cho “Tạp Chí Phố Wall”. Sau khi Dow chết, năm 1902, người kế tục ông làm biên tập cho tờ nhật báo, William. P. Hamilton, đã tiếp tục việc nghiên cứu lý thuyết này, sau 27 năm nghiến cứu và viết các bài báo, ông đã tổ chức và câu trúc lại thành Lý thuyết Dow như ngày nay. 

Tìm hiểu về lý thuyết của Dow, trước tiên ta phải nghiên cứu đến chỉ số trung bình của thị trường. Nhìn chung giá chứng khoán của tất cả các công ty đều cùng lên và xuống, tuy nhiên một số cổ phiếu lại chuyển động theo hướng ngược lại xu thế chung của các cổ phiếu khác cho dù là chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần. Thực tế cho thấy khi thị trường lên giá thì giá của một số chứng khoán tăng nhanh hơn những chứng khoán khác, còn khi thị trường xuống giá thì một số chứng khoán giảm giá nhanh chóng trong khi có một số khác lại tăng lên, nhưng thực tế vẫn chứng minh rằng hầu như tất cả các chứng khoán đều dao động theo cùng một xu thế chung.
 
Cùng với những cố gắng nghiên cứu của mình, Charles Dow là người đã đưa ra khái niệm về “chỉ số giá bình quân” nhằm phản ánh xu thế chung của một số cổ phiếu đại diện cho thị trường. Hai loại chỉ số bình quân Dow-Jones được hình thành vào năm 1897 và vẫn còn cho đến cho đến ngày nay được Dow tìm ra và áp dụng trong các nghiên cứu của ông về xu thế chung của thị trường. Một trong hai loại chỉ số ấy là chỉ số của 20 công ty hỏa xa, loại còn lại gọi là chỉ số công nghiệp thuộc các ngành khác bao gồm 12 công ty mạnh nhất vào thời kỳ đó. Con số này tăng lên 20 công ty vào năm 1916 và đến 1928 là 30 công ty. 

Khi nghiên cứu lý thuyết Dow có 12 nguyên lý quan trọng sau:

1.  Chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả (trừ hành động của Chúa). 

Bởi vì nó phản ánh những hoạt động có liên kết với nhau của hàng nghìn nhà đầu tư, gồm cả những người có kinh nghiệm dự đoán thị trường giỏi nhất, có những thông tin tốt nhất về xu hướng và các sự kiện, những gì có thể nhận thấy trước và tất cả những gì có thể ảnh hưởng đến cung và cầu của các loại chứng khoán. Thậm chí cả những thiên tai hay thảm họa không dự tính được thì ngay khi xảy ra chúng đã được thị trường phản ánh ngay vào giá của các loại chứng khoán. 

2.  Ba xu thế của thị trường 
Thuật ngữ thị trường nhằm chỉ giá chứng khoán nói chung, dao động của thị trường tạo thành các xu thế giá, trong đó quan trọng nhất là các xu thế cấp 1 (xu thế chính hay xu thế cơ bản). Đây là những biến động tăng hoặc giảm với qui mô lớn, thường kéo dài trong một hoặc nhiều năm và gây ra sự tăng hay giảm đến 20% giá của các cổ phiếu. Chuyển động theo xu thế cấp 1 sẽ bị ngắt quãng bởi các bởi sự xen vào của các dao động cấp 2 theo hướng đối nghịch - gọi là những phản ứng hay điều chỉnh của thị trường. Những biến động này xuất hiện khi xu hướng cấp 1 tạm thời vượt quá mức độ hiện tại của bản thân nó (gọi chung các biến động này là các biến động trung gian - biến động cấp 2). Những biến động cấp 2 bao gồm những biến động giá nhỏ hay gọi là những biến động hàng ngày và không có ý nghĩa quan trọng trong Lý thuyết Dow. 

3.  Xu thế cấp 1

Như đã nói đến ở phần trước, xu thế cấp 1 là những chuyển động lớn của giá, bao hàm cả thị trường, thường kéo dài hơn 1 năm và có thể là trong vài năm. Nếu như mỗi đợt tăng giá liên tiếp đều đạt đến mức cao hơn mức trước đó và mỗi điều chỉnh cấp 2 đều dừng lại ở mức đáy cao hơn mức đáy của lần điều chỉnh trước thì xu thế cấp 1 lúc này là tăng giá - thị trường lúc này là thị trường con bò tót - Bull Market (để đảm bảo tính chính xác, trong phần còn lại của của đề án sẽ dự nguyên thuật ngữ tiếng Anh : Bull Market). Còn ngược lại nếu mỗi biến động giảm đều làm cho giá xuống những mức thấp hơn còn mỗi điều chỉnh đều không đủ mạnh để làm cho giá tăng lên đến mức đỉnh của những đợt tăng giá trước đó thì xu thế cấp 1 của thị trường lúc này là giảm giá, thị trường được gọi là thị trường con gấu-Bear Market (trong phần còn lại sẽ giữ nguyên từ tiếng Anh). Thông thường, về lý thuyết thì xu thế cấp 1 chỉ là một trong 3 loại xu thế mà một nhà đầu tư dài hạn quan tâm. Mục đích của nhà đầu tư đó là mua chứng khoán càng sớm càng tốt trong một thị trường lên giá, sớm đến mức anh ta có thể chắc chắn rằng mới có duy nhất mình anh ta bắt đầu mua và sau đó nắm giữ đến khi và chỉ khi Bull Market đã thực sự kết thúc và bắt đầu Bear Market. Nhà đầu tư hiểu rằng họ có thể bỏ qua một cách an toàn tất cả những sự xen vào của các điều chỉnh cấp 2 và các dao động nhỏ vì họ đầu tư dài hạn theo xu thế chính của thị trường. Tuy nhiên với một kinh doanh chứng khoán ngắn hạn thì những biến động của xu thế cấp 2 lại có vai trò quan trọng bởi họ kiếm lợi nhuận dựa trên những biến động ngắn hạn của thị trường. 

4.  Xu thế cấp 2
Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn quá trình vận động của giá theo xu thế cấp 1. Chúng là những đợt suy giảm tạm thời (trung gian) hay còn gọi là những điều chỉnh xuất hiện ở các Bull Market; hoặc những đợt tăng giá hay còn gọi là hồi phục xuất hiện ở các Bear Market. Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3 tuần đến nhiều tháng. Chúng sẽ kéo ngược lại khoản 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại thị trường) của giá theo xu thế cấp 1. Do đó, chẳng hạn trong Bull Market, nếu chỉ số giá bình quân công nghiệp tăng liên tục ổn định hoặc có gián đoạn rất nhỏ và mức tăng đạt đến 30 điểm, khi đó xuất hiện xu thế điều chỉnh cấp 2, thì người ta có thể trông đợi xu thế điều chỉnh này có thể làm giảm từ 10 đến 20 điểm cho đến khi thị trường lặp lại xu thế tăng cấp 1 ban đầu của nó. 

Dẫu sao cũng cần lưu ý là qui tắc giảm 1/3 đến 2/3 không phải là một luật lệ không thể phá vỡ mà nó đơn giản chỉ là một nhận xét về khả năng có thể xảy ra mà hầu hết các biến động cấp 2 đều bị giới hạn trong mức này. Rất nhiều trong số đó ngừng tác động ở điểm gần với mức 50% mà rất hiếm khi đạt đến mức 1/3. 

Như vậy có 2 tiêu chí để nhận định một xu thế cấp 2: Tất cả những chuyển động của giá ngược hướng với  xu thế cấp 1 kéo dài ít nhất 3 tuần và kéo hoàn lại ít nhất 1/3 mức biến động thức của xu thế cấp 1 (tính từ điểm kết thúc biến động cấp 2 trước đó đến biến động cấp 2 này, bỏ qua những dao động nhỏ) thì được coi là thuộc loại trung gian hay còn gọi là biến động cấp 2. Mặc dù đã có những tiêu chí để xác định một xu thế cấp 2 nhưng vẫn có những khó khăn trong việc xác định thời điểm hình thành và thời gian tồn tại của xu thế. 

5.Xu thế nhỏ (Minor)
Đây là những dao động trong thời gian ngắn (dài tối đa 3 tuần, hường chỉ dưới 6 ngày) mà theo như thuyết Dow đã nói đến, bản thân chúng không thực sự có ý nghĩa nhưng chúng góp phần tạo nên các xu thế trung gian. Thông thường thì một biến động trung gian dù là một xu thế cấp 2 hay là một phần của xu thế cấp 1 xen giữa hai xu thế cấp 2 liên tiếp, đều được tạo thành từ một dãy gồm 3 hoặc nhiều hơn những dao động nhỏ khác nhau. Xu thế nhỏ là dạng duy nhất trong 3 loại xu thế có thể bị “lôi kéo” (bị tác động). Để tác động vào xu thế cấp 1 và 2 thì cần những giao dịch với khối lượng rất lớn và điều này hầu như là không thể. 

Để làm rõ khái niệm về 3 xu thế của thị trường, ta có thể so sánh với biến động của sóng biển với một số điểm giống nhau như sau: Xu thế cấp 1 trong giá chứng khoán giống như những đợt thủy triều lên hoặc xuống. Có thể so sánh thị trường lên giá (Bull Market) với thủy triều lên. Thủy triều dâng nước lên bờ biển ngày càng xa vào sâu trong bờ và đến đỉnh của thủy triều thì lại quay ngược trở về biển. Khi thủy triều rút lại được so sánh với thị trường xuống giá (Bear Market). Và cho dù trong lúc thủy triều lên hay xuống thì luôn có những con sóng đập vào bờ rồi lại lùi lại về biển. Khi thủy triều lên mỗi con sóng liên tiếp nhau vào bờ, sóng sau vào sâu hơn sóng trước lại góp phần làm thuỷ triều vào xa hơn trong bờ, nhưng khi thủy triều xuống mỗi con sóng không mang nước ra xa bờ mà nước giảm xuống là do sóng sau vào đến bờ ở mức thấp hơn (tụt lại hơn) so với đỉnh của sóng trước, mỗi con sóng do đó sẽ trả lại dần dần bờ biển như trước khi thủy triều lên. Những con sóng này là các xu thế trung gian, có thể cấp1 hoặc cấp 2 tùy thuộc hướng chuyển động của nó so với hướng của thủy triều vào thời điểm xảy ra xu thế đó. 

Mặt biển cũng luôn luôn biến động với những gợn sóng nhấp nhô chuyển động cùng chiều, ngược chiều hoặc chuyển động ngang so với hướng của những con sóng lớn - những gợn sóng này biểu hiện cho các xu thế nhỏ (những dao động hàng ngày có vai trò không quan trọng như đã nói ở phần trên). Những đợt thủy triều, những con sóng và những gợn sóng nhỏ chính là những hình ảnh so sánh giống nhất đối với những biến giá của một thị trường. Trong những phần sau ta sẽ còn xem xét đến một lý thuyết khác về thị trường gọi là Lý thuyết Sóng Elliott, trong đó mọi biến động của thị trường đều gắn trực tiếp với các con sóng. 

6. Bull Market (thị trường con bò tót - thị trường tăng giá)
Một xu thế tăng giá cơ bản thường bao gồm 3 thời kì. Thời kì đầu tiên là quá trình “tích tụ”, trong quá trình này, những nhà đầu tư có tầm nhìn xa sẽ tiến hành xem xét các doanh nghiệp, có thể vào thời kì này doanh nghiệp đang suy thoái nhưng nhà đầu tư nhận thấy khả năng doanh ngiệp có thể chuyển biến tình hình thành tăng trưởng nhanh chóng, có thể giá cổ phiếu của nó sẽ tăng trong thời gian tới. Đây cũng là thời điểm mà cổ phiếu này đang được chào bán rất nhiều bởi những nhà đầu tư đang có tâm lý rất chán nản và lo lắng về tình trạng của những cổ phiếu của họ và để nhằm tăng dần giá chào bán của họ khi thị trường xuất hiện sự suy giảm trong khối lượng giao dịch. Các bản báo cáo tài chính của doanh nghiệp đó có thể không tốt thậm chí rất tồi. Công chúng hoàn toàn cảm thấy thất vọng khi tham gia vào thị trường chứng khoán bởi họ thấy lượng tiền đã đầu tư của họ đang giảm giá trị nhanh chóng và có nguy cơ còn giảm nữa, vì vậy mà họ muốn thoát ra khỏi thị trường. Tuy nhiên có thể nhận thấy một điều vào cuối giai đoạn thứ nhất này là trong hoạt động của công ty và trong những biến động trên thị trường đã có những biến chuyển tuy mới chỉ ở mức hạn chế, bắt đầu xuất hiện những đợt tăng giá nhỏ. 

Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ của sự tăng trưởng khá vững chắc. Họat động của doanh ngiệp đang theo dõi gia tăng mạnh cùng với những khởi sắc trong nội bộ doanh nghiệp và doanh thu của nó cũng tăng dần và bắt đầu thu hút các mối quan tâm trên thị trường. Đây chính là thời kì mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà kinh doanh chứng khoán theo trường phái Phân tích kỹ thuật. 

Cuối cùng là thời kì thứ 3, trong thời kì này thị trường sôi sục với những biến động của nó. Công chúng rất háo hức với từng biến động của thị trường. Tất cả các thông tin tài chính của doanh nghiệp đưa ra đều rất tốt, giá chứng khoán tăng cao ngoài sức tưởng tượng và đang là những vấn đề nóng hổi được đưa lên trang đầu của các tờ báo ra hàng ngày. Đến thời điểm sau khoảng hai năm tính từ lúc thị trường bắt đầu đi lên, những người ít kinh nghiệm có thể mới cho rằng thị trường lúc này mới chắc chắn cho lợi nhuận của họ và muốn tham gia vào thị trường. Nhưng thực sự thì sau hai năm, giá đã tăng khá cao, câu hỏi nên đặt ra vào lúc này là “nên bán cổ phiếu nào? ” chứ không còn là “nên mua cổ phiếu nào ? ” nữa. Vào cuối thời kì thứ 3, người ta có thể thấy nạn đầu cơ tràn lan, khối lượng giao dịch vẫn tiếp tục tăng nhưng “air-pocket-stock” xuất hiện ngày càng nhiều, số lượng cổ phiếu có giá thấp nhưng không có giá trị đầu tư cũng gia tăng và cả những đợt phát hành trái phiếu cũng ít dần đi.

Wednesday, 22 December 2010

Đường trung bình (Moving Average)

Đường trung bình là một trong những công cụ phổ biến và dễ sử dụng nhất để phân tích kỹ thuật. Đường trung bình giúp làm phẳng dữ liệu và nhờ đó dễ nhận biết được xu hướng, điều này đặc biệt hữu dụng đối với thị trường biến động. Đường trung bình cũng làm nền tảng cho việc xây dựng nhiều công cụ khác.

Có 02 loại đường trung bình phổ biến nhất là SMA (Simple Moving Average, đường trung bình đơn giản) và EMA (Exponential Moving Average, đường trung bình lũy thừa)
Simple Moving Average (SMA)
Một đường SMA được tạo thành bằng cách tính giá trung bình của một khoảng thời gian. Đường SMA có thể được tính toán bằng giá cao, thấp hoặc giá mở nhưng hầu hết đường trung bình được tính toán bằng giá đóng. VD : một đường SMA 5-day được tính bằng tổng giá đóng của 5 ngày cuối cùng và chia tổng cho 5.
10+ 11 + 12 + 13 + 14 = 60

(60 / 5) = 12

Việc tính toán được lặp lại cho mỗi vạch giá (price bar) trên đồ thị. Sau đó các điểm trung bình được nối kết lại tạo thành đường uốn khúc đấy chính là đường trung bình. Tiếp tục ví dụ trên, nếu giá đóng của ngày kế tiếp là 15, vậy thì giá mới sẽ được cộng vào và giá cũ nhất sẽ được bỏ ra (giá trị 10). Và giá trị SMA 5-day mới sẽ được tính như sau :
11 + 12 + 13 + 14 +15 = 65

(65 / 5) = 13

Theo 2 ngày cuối cùng, SMA chuyển từ 12 lên 13. Khi những ngày mới được thêm vào, những ngày cũ được bỏ ra và đường trung bình sẽ tiếp tục biến đổi theo thời gian.

Trong VD trên, ngày 10 là ngày đầu tiên có thể tính một SMA 10-day. Khi tiếp tục tính, ngày mới nhất được thêm vào và ngày cũ nhất được loại ra. SMA 10-day cho ngày 11 được tính bằng cách tính tổng giá từ ngày 2 đến ngày 11 và chia cho 10…

Tất cả các đường trung bình là các công cụ báo biểu trễ (lagging indicator) và luôn luôn theo sau giá thật. Giá của Eastman Kodak (EK) đang đi xuống nhưng SMA 10-day nằm trên giá. Nếu giá đang lên thì SMA hầu hết sẽ nằm bên dưới giá. Bởi vì các đường trung bình là những công cụ báo biểu trễ nên chúng được xếp vào loại công cụ báo biểu theo sau xu hướng. Khi giá theo xu hướng thì đường trung bình hoạt động tốt, nhưng không phải lúc nào giá cũng theo xu hướng do đó đường trung bình có thể đưa ra tín hiệu sai lệch.
Exponential Moving Average (EMA)
Để giảm độ trễ trong đường SMA, người ta thường dùng đường EMA. Đường EMA giảm độ trễ bằng cách áp dụng “mức ảnh hưởng” (weight) nhiều đối với các giá gần so với các giá cũ hơn
Cách tính EMA
Đường EMA có thể được xác định bằng 20 cách : EMA dựa trên phần trăm (a percent-based EMA, sử dụng tham số là một số phần trăm) và EMA dựa trên thời gian (a period-based EMA, sử dụng tham số là khoảng thời gian).
Công thức tính một EMA là :
EMA(current) = ( (Price(current) - EMA(prev) ) x Multiplier) + EMA(prev)

Đối với một EMA dựa trên phần trăm, "Multiplier" bằng tỷ lệ % được chỉ định cho EMA. Đối với EMA dựa trên thời gian, "Multiplier" bằng 2/(1+N) trong đó N là số khoảng thời gian.
VD, đối với 10-period EMA thì Multiplier được tính như sau
(2 / (Time periods + 1) ) = (2 / (10 + 1) ) = 0.1818 (18.18%)

Nghĩa là một 10-period EMA thì tương đương 18.18% EMA.
Bảng bên dưới là kết quả tính cho EMA của Eastman Kodak :
(C - P) = (57.15 - 59.439) = -2.289

(C - P) x K = -2.289 x .181818 = -0.4162

( (C - P) x K) + P = -0.4162 + 59.439 = 59.023



Chú ý rằng mỗi một giá đóng trước đó trong chuỗi dữ liệu được sử dụng để tính cho một EMA để tạo đường EMA. Sự ảnh hưởng của dữ liệu cũ giảm theo thời gian nhưng không bao giờ mất hoàn toàn. Ảnh hưởng củ dữ liệu cũ giảm nhanh đối với EMA ngắn nhưng không bao giờ hoàn toàn mất đi.
SMA so với EMA
Sự khác nhau giữa EMA và SMA là rất nhỏ. Trong ví dụ này chỉ sử dụng 20 ngày và sự khác biệt rất nhỏ tuy nhiên vẫn có sự khác biệt. Đường EMA thường gần với giá thực hơn so với đường SMA.



Từ ngày 10 đến 20, đường EMA gần giá thực hơn đường SMA (8/11 lần). Sự sai biệt trung bình của đường EMA so với giá thực là 1.52 và đường SMA là 1.69. Điều này nghĩa là đường EMA có 1.52 điểm nằm trên và dưới giá thực và đường SMA có 1.69 điểm nằm trên và dưới giá thực.
Khi Kodak ngừng đi xuống và bắt đầu đi ngang đường SMA vẫn giữ hướng xuống. Trong khoảng thời gian này, đường SMA gần giá thực hơn EMA. Đường EMA bắt đầu khựng lại và rời xa giá thực. Điều này là do giá thực bắt đầu khựng lại. Do giá thực khựng lại nên đường SMA tiếp tục giảm và gần chạm giá thực vào ngày 13/12



So sánh giữa đường EMA 50-day và SMA 50-day của IBM cũng thấy rằng đường EMA theo xu hướng nhanh hơn đường SMA. Các mũi tên xanh đánh dấu khi cổ phiếu bắt đầu một xu hướng mạnh. Do đặt mức ảnh hưởng cao hơn đối với giá gần, đường EMA ảnh hưởng nhanh hơn so với SMA và gần giá thực. Vòng tròn xám thể hiện khi xu hướng bắt đầu chậm lại và thị trường đi ngang. Khi thay đổi xu hướng bắt đầu, đường SMA gần giá thực. Khi đến năm 2001, cả 02 đường trung bình hội tụ. Trước 2001, giá bắt đầu xu hướng lên và EMA nhanh chóng hướng lên theo giá thực và gần với giá thực hơn SMA.
Đường nào tốt hơn?
Đường trung bình mà bạn sử dụng sẽ tùy thuộc vào sở thích và cách giao dịch của bạn. Đường SMA hiển nhiên có một độ trễ, đường EMA có thể bắt được đảo chiều nhanh hơn. Một số trader thích sử dụng đường EMA đối với khoảng thời gian ngắn để nắm bắt được các thay đổi nhanh hơn. Nhưng một số trader khác lại thích sử dụng đường SMA trên khoản thời gian dài để xác định thay đổi xu hướng dài hạn.
Một số người nghĩa rằng các tín hiệu nhạy hơn  và nhanh hơn thì tốt, nhưng điều này không luôn luôn đúng và đây là một điều lưỡng nan trong phân tích kỹ thuật : cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy. Các tín hiệu có độ nhạy cao thì càng bị sai lầm nhiều.
Đối với đường trung bình, đường trung bình ngắn hơn sẽ nhạy hơn và tạo nhiều tín hiệu hơn. Đường EMA nhạy hơn đường SMA và sẽ cho nhiều tín hiệu hơn. Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với việc tín hiệu sai tăng lên. Đường trung bình dài hơn sẽ chậm hơn và tạo ít tín hiệu hơn. Các tín hiệu này sẽ có độ tin cậy cao hơn, nhưng chúng cũng trễ hơn. Mỗi trader có kinh nghiệm sử dụng đường trung bình khác nhau và có cách cân bằng giữa độ nhạy và độ tin cậy riêng.
Công cụ theo sau xu hướng
Các đường trung bình làm phẳng dữ liệu giúp dễ xác định xu hướng. Bởi vì giá trong quá khứ được sử dụng để tạo ra đường trung bình nên chúng được xem là công cụ trễ hoặc theo sau xu hướng. Đường trung bình sẽ không tiên đoán một thay đổi trong xu hướng, mà theo sau xu hướng hiện tại. Do đó, chúng phù hợp với mục đính xác định xu hướng, không dùng tiên đoán xu hướng.
Khi nào sử dụng
Bởi vì đường trung bình theo sau xu hướng, chúng làm việc tốt khi cổ phiếu đang có xu hướng và không hiệu quả khi chứng khoán đi ngang. Vì điều này, các trader nên xác định cổ phiếu có xu hướng hay không trước khi quyết định phân tích bằng đường trung bình.
Giá cổ phiếu có một trong ba xu hướng : xu hướng lên, xu hướng xuống và xu hướng ngang. Xu hướng lên được thiết lập khi giá sau cao hơn giá trước, xXu hướng xuống được thiết lập khi giá sau thấp hơn giá trước, và xu hướng ngang khi cổ phiếu không thể thiết lập xu hướng lên hoặc xuống. Nếu cổ phiếu đang xu hướng ngang, một xu hướng lên bắt đầu khi đường biên trên bị phá vỡ và ngược lại xu hướng xuống hình thành khi đường biên dưới bị phá vỡ.

Trong VD của Ford, giá cổ phiếu có thể vừa lên vừa xuống. Các vòng tròn đỏ cho thấy những lúc giá dao động trong một phạm vi hẹp. Thật khó để xác định khi nào một xu hướng sẽ dừng và giá bắt đầu dao động trong một phạm vi hẹp hoặc khi nào giá ngừng dao động trong một phạm vi hẹp và xu hướng sẽ bắt đầu. Chú ý những lúc giá dao động hẹp và những lúc phá vỡ hình thành xu hướng. Đường trung bình làm việc tốt những lúc có xu hướng, nhưng không tốt những lúc dao động trong phạm vi hẹp.Cũng chú ý rằng đường trung bình chậm sau xu hướng : nó luôn luôn nằm bên dưới giá khi xu hướng lên và nằm bên trên giá khi xu hướng xuống. Đường SMA – 50 day được sử dụng trong ví dụ này. Tuy nhiên khoảng thời gian cho đường trung bình là một lựa chọn và tùy thuộc vào tính chất của cổ phiếu cũng như kiểu đầu tư, kiểu giao dịch…

Nếu giá dao động lên xuống trong thời gian dài thì đường trung bình không phải là một lựa chọn tốt nhất cho việc phân tích. Đồ thị của Coca-Cola cho thấy cổ phiếu dao động từ 60 đến 40 trong 02 tháng của năm 2001. Trước khi giá đi xuống, giá dao động trên và dưới đường trung bình. Sau đợt giảm, cổ phiếu tiếp tục dao động và không hình thành xu hướng. Cố gắng phân tích dựa vào đường trung bình những lúc này thì không hiệu quả.

Nhìn qua đồ thị của Time Warner(TWX) cho chúng ta một bức tranh khác. Trên cùng một khoảng thời gian, TWX đã thể hiện khả năng hình thành xu hướng. Có 03 xu hướng rõ ràng. Khi cổ phiếu di chuyển lên bên trên hoặc xuống bên dưới đường SMA – 70 days, nó tiếp tục xu hướng đó trong một khoảng thời gian dài hơn. Mặt khác, giá cổ phiếu Coca-cola cắt qua đường SMA – 70 days rất nhiều lần và tạo ra nhiều tín hiệu giả. Một đường trung bình dài hơn có thể làm việc tốt hơn, đồ thị của TWX đã thể hiện xu hướng tốt hơn.
Xác định thông số đường trung bình
Khi một cổ phiếu đã thể hiện xu hướng, công việc kế tiếp là chọn lựa một số khoảng thời gian cho đường trung bình và kiểu đường trung bình. Một số khoảng thời gian được sử dụng cho đường trung bình sẽ thay đổi tùy thuộc vào tính chất biến động của cổ phiếu, khuynh hướng và sở thích của cá nhân. Đối với cổ phiếu biến động nhiều thì cần làm phẳng nhiều hơn do đó đường trung bình dài hơn. Không có bộ thời gian chuẩn, nhưng một vài bộ thời gian đươc sử dụng phổ biến như : 21, 50, 89 và 200 days; 10, 30 và 40 week. Các trader ngắn hạn thường tìm tín hiệu xu hướng 2-3 tuần bằng đường trung bình 21 day. Phương pháp thử và sai là phương tiện thông dụng tốt nhất để tìm khoảng thời gian phù hợp. Kiểm tra xem đường trung bình so với giá như thế nào. Nếu giá và đường trung bình cắt nhau quá nhiều thì cần tăng khoảng thời gian của đường trung bình. Nếu đường trung bình phản ánh giá chậm thì cần giảm khoảng thời gian của đường trung bình. Thêm vào đó, bạn có thể muốn thử sử dụng cả 02 đường trung bình SMA và EMA. Đường EMA thường sử dụng tốt nhất cho ngắn hạn vì cần sự đáp ứng nhanh của đường trung bình. Đường SMA làm việc tốt hơn cho dài hạn.
Sử dụng đường trung bình
Có nhiều công dụng đối với đường trung bình, nhưng 03 công dụng nổi bật là :
  • Nhận biết/xác định xu hướng
  • Nhận biết/xác định các mức hỗ trợ và kháng cự
  • Hệ thống giao dịch
Nhận biết/xác định xu hướng
Có 03 cách nhận biết xu hướng với đường trung bình : hướng, vị trí và cắt nhau.
Kỹ thuật nhận biết xu hướng đầu tiên sử dụng hướng của đường trung bình để xác định xu hướng. Nếu đường trung bình đi lên, xu hướng lên. Nếu đường trung bình đi xuống, xu hướng xuống. Hướng của đường trung bình có thể xác định đơn giản bằng cách nhìn vào đường trung bình trên đồ thị.

Trong trường hợp của Disney (DIS), đường EMA 100-day được sử dụng để nhận biết xu hướng. Một số điểm đảo chiều quan trọng được khoanh đỏ. Một số tín hiệu tốt được đưa ra nhưng cũng có một số tín hiệu giả và tín hiệu trễ. Khoảng thời gian của đường trung bình sẽ ảnh hưởng đến số tín hiệu và khả năng chậm trễ của tín hiệu. Đường trung bình là một công cụ báo hiệu trễ. Do đó, đường trung bình càng dài thì phản ánh giá càng chậm. Đối với các tín hiệu nhanh có thể sử dụng đường EMA-50 days.
Kỹ thuật thứ 2 để nhận  biết xu hướng là vị trí giá. Vị trí giá so với đường trung bình có thể được sử dụng để nhận biết hướng cơ bản. Nếu giá bên trên đường trung bình thì xu hướng lên. Nếu giá bên dưới đường trung bình thì xu hướng xuống.

Đây là một ví dụ rất dễ hiểu. Xu hướng dài hạn của Cisco (CSCO) được nhận biết bằng vị trí của đường SMA 100-day. Khi giá CSCO bên trên đường SMA thì xu hướng tăng. Khi giá bên dưới SMA thì xu hướng giảm. Tín hiệu mua và bán được tạo khi giá cắt qua đường trung bình. Một tín hiệu bán được tạo vào tháng 8/1999 và một tín hiệu mua sai được tạo vào tháng 7/2000. Cả 02 tín hiệu này đều xảy ra khi xu hướng củ Cisco bắt đầu yếu đi.
Kỹ thuật thứ 3 để nhận biết xu hướng là dựa trên vị trí của một đường trung bình ngắn so với một đường trung bình dài. Nếu đường trung bình ngắn bên trên đường trung bình dài thì xu hướng lên. Nếu đường trung bình ngắn bên dưới đường trung bình dài thì xu hướng xuống.

Đối với Inter-Tel (INTL), đường trung bình 30 và 100 cắt nhau được sử dụng để nhận biết xu hướng. Khi đường trung bình 30 bên trên đường trung bình 100 thì xu hướng lên. Khi đường trung bình 30 bên dưới đường trung bình 100 thì xu hướng xuống. Một biểu đồ vi sai 30/100 được vẽ bên dưới đồ thị giá bằng công cụ Percentage Price Oscillator (PPO) với thông số (30,100,1). Khi vi sai là dương thì xu hướng lên, khi vi sai là âm thì xu hướng xuống. Cũng như tất cả các công cụ theo sau xu hướng, tín hiệu là việc tốt khi giá tạo một xu hướng mạnh, nhưng không hiệu quả khi giá dao động trong phạm vi. Cũng lưu ý rằng tín hiệu có khuynh hướng trễ và sau khi biến động đã bắt đầu.. Một lần nữa, các công cụ theo sau xu hướng sử dụng tốt nhất để nhận biết xu hướng chứ không phải để tiên đoán xu hướng.
Các mức hỗ trợ và kháng cự
Một công dụng khác của đường trung bình là xác định các mức hỗ trợ và kháng cự. Việc này được thực hiện với một đường trung bình và được dựa trên sự kiện trước đó. Cũng như việc xác định xu hướng, việc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự thông qua đường trung bình làm việc tốt nhất trong các thị trường có xu hướng rõ.

Sau khi tạo thành xu hướng đi lên, giá của Sun Microsystems (SUNW) đã test thành công các mức hỗ trợ của đường trung bình vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8. Sau lần test đầu tiên, đường trung bình 50-day đã thành công tiếp thêm 4 lần test mức hỗ trợ cho các tháng tiếp theo. Một cú phá vỡ mức hỗ trợ của đường trung bình báo hiệu rằng cổ phiếu có thể chuyển sang dao động trong phạm vi và có thể đảo hướng. Giá phá vỡ đường trung bình vào tháng 4/2000 và đường trung bình trở thành mức kháng cự các tháng sau đó. Khi giá cắt đường trung bình vào tháng 6/2000, đường trung bình trở lại làm mức hỗ trợ cho đến tháng 10/2000.

Đường Bollinger (Bollinger Bands)

Giới thiệu
Được John Bollinger phát triển, Bollinger Bands là một công cụ cho phép người sử dụng so sánh độ bất ổn định và các mức giá liên quan theo một khoảng thời gian. Công cụ này bao gồm 03 đường được thiết kế để bao quanh phần lớn hoạt động của giá một cổ phiếu.
  1. Một đường trung bình ở giữa
  2. Một đường bên trên (SMA cộng 2 standard deviations)
  3. Một đường bên dưới (SMA trừ 2 standard deviations)
Standard deviation là một đơn vị đo lường thống kê cung cấp sự đánh giá độ bất ổn định của đồ thị giá. Sử dụng standard deviation đảm bảo các đường bollinger sẽ đáp ứng nhanh với các biến động giá và phản hồi độ bất ổn định cao hay thấp. Giá tăng hoặc giảm đột ngột sẽ tạo thành dãy băng rộng.
Tính toán


Đường ở giữa là một đường SMA 20-day. Đường bên trên là đường SMA 20-day cộng với 2 standard deviation. Đường bên dưới là đường SMA 20-day trừ với 2 standard deviation.
Các thông số
Giá đóng thường được sử dụng nhất để tính Bollinger Bands. Các biến thể khác cũng có thể được sử dụng bao gồm typical price và weighted price.
  • Typical Price = (high + low + close)/3
  • Weighted Price = (high + low + close + close)/4
Bollinger đề nghị sử dụng đường SMA 20 cho đường ở giữa và 2 standard deviation cho các đường ngoài. Độ dài của đường trung bình và số deviation có thể điều chỉnh cho tốt hơn tùy thuộc vào sở thích cá nhân và đặc tính của cổ phiếu.
Phương pháp thử và sai là phương pháp để xác độ dài thích hợp của đường trung bình. Bằng cách quan sát trên đồ thị cũng có thể xác định khoảng thời gian phù hợp cho đường trung bình. Các đường bollinger sẽ bao quanh phần lớn hoạt động biến đổi của giá nhưng không phải là hoàn toàn. Sau khi có biến động đột ngột, việc giá xuyên qua dãy băng là bình thường. Nếu việc giá vượt qua khỏi dãy băng xuất hiện thường xuyên thì đường trung bình cần dài hơn. Nếu già hiếm khi chạm vào 02 đường ngoài của dãy bollinger thì đường trung bình cần ngắn hơn.

Một phương pháp chính xác hơn để xác định độ dài của đường trung bình là xem xét đáp ứng với một giá đáy. Khi một đáy (bottom) được tạo thành và một xu hướng xuống đảo chiều, cổ phiếu tạo thành một giá thấp cao hơn giá thấp trước đó. Đường Bollinger Bands được thiết lập thông số phù hợp sẽ đóng vai trò mức hỗ trợ cho mức giá thấp thứ hai. Nếu giá thấp thứ hai vượt qua đường bollinger dưới thì đường trung bình quá ngắn. Nếu giá thấp thứ hai nằm bên trên đường bollinger dưới thì đường trung bình quá dài. Tương tự như vậy, đường bollinger trên đóng vai trò mức kháng cự cho giá tăng.

Đối với Wal-Mart (WMT), đường SMA 20-day của đường Bollinger Bands hơi dài. Chú ý khoảng trống lớn giữa đường bollinger dưới và giá thấp cao hơn (giá thấp thứ 2) vào tháng 3. Thông qua phương pháp thử và sai, đường SMA 12-day phù hợp hơn.
Đối với các khung thời gian chung, Bollinger đề nghị sử dụng đường SMA 10-day cho ngắn hạn, đường SMA 20-day cho trung hạn và đường SMA 50-day cho dài hạn.
Sử dụng
Ngoài việc xác định quan hệ giữa các mức giá và độ bất ổn định, đường Bollinger Bands có thể kết hợp với biến động giá và các công cụ khác để đưa ra tín hiệu và dự báo các biến động quan trọng.
Double bottom Buy: một tín hiệu Double Bottom Buy  được tạo thành khi giá vượt qua đường bollinger dưới và nằm bên trên đường bollinger dưới sau khi tạo tiếp mức giá thấp tiếp theo. Mức giá thấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức giá thấp trước đó. Điều quan trọng là mức thấp thứ hai phải nằm trên đường bollinger dưới. Giá chuyển sang xu hướng lên được xác định khi giá di chuyển lên trên đường bollinger giữa.

AT&T (T) cho chúng ta một ví dụ của một tín hiệu Double Bottom Buy. Cổ phiếu đã vượt qua đường bollinger dưới vào cuối tháng 9 (mũi tên đỏ) và sau đó giữ bên trên tại mức thấp kế tiếp trong tháng 10. Đợt tăng giá tháng 10 vượt qua đường bollinger giữa chứng tỏ xu hướng tăng giá.
Double Top Sell: Một tín hiệu Double Top Sell được tạo thành khi giá vượt qua đường bollinger trên và đỉnh của đợt tăng giá kế tiếp không vượt qua được đường bollinger trên. Giá chuyển sang xu hướng xuống được xác định khi giá di chuyển xuống bên dưới đường bollinger giữa.
Việc thay đổi giá đột ngột có thể xảy ra sau khi dãy bollinger thu hẹp lại và sự bất ổn định thấp. Trong ví dụ này, đường bollinger không đưa ra bất kỳ tín hiệu nào về xu hướng của giá trong thời gian tới. Xu hướng phải được xác định bằng cách sử dụng các công cụ phân tích kỹ thuật khác. Nhiều cổ phiếu chuyển sang biến động mạnh sau một khoảng thời gian biến động ít. Việc sử dụng đường bollinger có thể xác định mức độ biến động dễ dàng bằng quan sát đồ thị. Dãy băng hẹp cho biết thị trường ít biến động và dãy băng rộng cho biết thị trường biến động mạnh. Độ biến động có thể quan trọng với những người chơi “options” bởi vì giá của “options” sẽ rẻ hơn khi độ biến động thấp.

Starbucks (SBUX) cung cấp một ví dụ về việc dãy băng bollinger thu hẹp trước khi có biến động mạnh. Trong tháng 11, dãy băng tương đối rộng và bắt đầu thu hẹp khoảng 02 tháng sau đó. Vào đầu tháng 01, dãy băng thu hẹp nhất trong khoảng 04 tháng (vùng khoanh đỏ). Sau đó cổ phiếu bùng nổ tăng 10 điểm.
Kết luận
Mặc dù đường Bollinger có thể giúp tạo các tín hiệu mua và bán, nhưng đường bollinger không được thiết kế để xác định xu hướng trong tương lai. Đường Bollinger được thiết kế để bổ sung cho việc phân tích kỹ thuật và các công cụ khác. Bản thân đường Bollinger đáp ứng 02 chức năng chính :
  • Xác định các khoảng thời gian độ biến động cao hoặc thấp
  • Xác định các khoảng thời gian giá đang ở mức kháng cự hay hỗ trợ.
Như đã đề cập ở trên, giá cổ phiếu có thể chuyển đổi qua lại giữa biến động mạnh và biến động thấp. Đường Bollinger có thể xác định khoảng thời gian biến động ít do đó có thể đáp ứng vai trò một công cụ cảnh báo động thái của giá cổ phiếu. Trong phân tích kỹ thuật, kết hợp cùng các công cụ khác, đường bollinger có thể giúp xác định chiều của một biến động mạnh.
Hãy nhớ rằng tín hiệu mua và bán không được đưa ra khi giá chạm đường bollinger trên và dưới. Các mức này chỉ cho biết giá đang ở mức cao hoặc thấp trên một nền tảng tương đối.

Tuesday, 21 December 2010

Chỉ báo Aroon

Chỉ báo Aroon
Là chỉ báo xác định hướng đi của đường giá: hướng tăng giá (upward), hướng giảm giá (downward), chuyển giao xu hướng hoặc lình xình không xác định được rõ ràng (sideways). Nó còn giúp cho nhà đầu tư biết thị trường đang trong xu thế tăng, đang trong xu thế giảm hoặc đang dao động trong một phạm vi giá nào đó

Khi sử dụng Aroon:


Như chúng ta đã biết hướng dịch chuyển của đường giá là vô cùngquan trọng cho những người dùng Phân tích Kỹ thuật để kinh doanh. Khi đường giádi chuyển theo một chiều lên hay xuống thì người ta gọi đó là một xu hướng tiếptục thuận lợi. Cũng như vậy, khi đường giá di chuyển ở trạng thái lình xình(sideways) thì người ta gọi đó là một xu hướng tiếp tục tồi tệ. Trong trạngthái như thế, Oscillators hay Stochastic Oscillator sẽ cho tín hiệu mua bán tốthơn tại nơi sideways nhưng nếu thị trường đang vận động trong một xu hướng mạnhthì chỉ báo aroon sẽ giúp ích rất nhiều cho nhà đầu tư.

Mô tả thành lập:

Aroon gồm có hai thành phần: Aroon Up và Wroon Down dao độngtrong phạm vi từ 0 đến 100. Khi Aroon Down có giá trị trên 70 và đồng thờiAroon Up có giá trị dưới 30 khi đó thì trường có xu hướng là giảm giá. Ngượclại khi Aroon Up có giá trị trên 70 và đồng thời Aroon Down có giá trị dưới 30thì khi đó thị trường đang có xu hướng tăng giá rất mạnh. Khi Aroon Up và AroonDown có khuynh hướng dao động quanh giá trị 50 thì thị trường trở thành trạngthái củng cố xu hướng trước đó. Khi Aroon Up và Aroon Down cùng di chuyển songsong thì đường giá sẽ di chuyển theo trạng thái lình xình (sideways) hoặc gầnnhư sideways. Mặc định khoảng chu kỳ xem xét của Aroon là 25 phiên dao động.Tuy nhiên chúng ta có thể thay đổi thành 10 phiên cho những nhà đầu cơ ngắn hạnvà 50 phiên cho những nhà đầu tư dài hạn.



AroonOscillator:
Đây là dạng biến thể của chỉ báo Aroon. Nó kết hợp giữa Aroon Upvà Aroon Down thành một chỉ báo duy nhất. Aroon Oscillator đơn giản được tínhtoán bởi Aroon Up trừ đi Aroon Down.

· Nếu giá trị AroonOscillator lớn hơn 50 thì thị trường đang trong xu hướng tăng mạnh.

· Nếu giá trị AroonOscillator nhỏ hơn -50 thì có nghĩ là thị trường đang trong xu hướng giảm rấtthấp.

· Còn Aroon Oscillatorcó giá trị gần giá trị zero thì có nghĩa là thì trường đang chuyển giao haykhông có xu hướng. 


Khi giá trị Aroon Oscillator tăng lên trên 50 thì xu hướng củađường giá tăng lên mạnh sẽ chiếm ưu thế và tại đây có thể sẽ diễn ra sự đảochiều của xu hướng. Khi Aroon Oscillator lanh quanh vị trí 0 trong khoảng thờigian thì xu hướng đó đang không được xác định rõ ràng.

Khi giá trị của Aroon Oscillator giảm từ 0 đến -50 thì đường giácó hướng di chuyển giảm và khi Aroon Oscillator có giá trị nhỏ hơn -50 thì cónghĩa là thị trường đang trong xu hướng giảm rất mạnh. Nếu sau đó AroonOscillator có giá trị bắt đầu tăng trên -50 và hướng về đường zero thì xu hướnggiảm giá đã bắt đầu yếu và sự đảo chiều đang bắt đầu được hình thành. Nếu AroonOscillator tiếp tục tăng hơn đường zero thì hướng đi của đường giá đang chuyểntừ không có xu hướng xác định thành bắt đầu hình thành xu hướng tăng

Chỉ báo Aroon và Aroon Oscillator là công cụ cực kỳ hữu ích , nógiúp cho nhà đầu tư đo lường sự xấu - tốt của các chỉ báo tiếp tục xu hướng(đường trung bình - Moving Averages); Khi Aroon Up hoặc Aroon Down có giá trịtrên 70 là chỉ báo xu hướng mạnh và sẽ tiếp tục xu hướng đó. Ngược lại nếu dướigiá trị 30 thì chỉ báo xu hướng sắp tới sẽ có hướng đảo chiều.

Aroon và ADX đều biểu diễn sức mạnh của xu hướng. ADX không thểhiện được hướng di chuyển của đường giá trong khi đó chỉ báo Aroon tăng khiđường giá tăng và giảm khi đường giá giảm.

Đường xu hướng (trendline)

Đường xu hướng là công cụ cơ bản nhất của phương pháp phân tích bằng đồ thị.

1.Đường xu hướng tăng (Uptrend):

a. Cấu tạo:

- Sử dụng giá mở cửa, cao nhất, thấp nhất hay đóng cửa để vẽ đường xu hướng.điều quan trọng nhất ở đây là khỏang thời gian chúng ta cần xét đến là bao lâu,cái này người ta gọi là khung thời gian (time frame). Thông thường ở VN ngườita chọn là ngày, tuần, tháng và sau đó là năm.

- Nếu đường giá đang chuyển động là tăng theo 1 đường thẳng thì ta nối các điểmthấp nhất và kéo dài ra cho đến ngày hoện hành thì ta đưỡc 1 đường xu hướngtăng, với 3 điểm thấp nhất ta có thể xác định được đường xu hướng này. Nếu càngnhiều điểm thì đường xu hướng này càng có giá trị chính xác.

b. Sử dụng:


- Đường xu hướng tăng cho biết thị trường sẽ tiếp tục với xu hướng đó cho đếnkhi xu hướng đó bị gãy (broken). Trong xu hướng tăng giá, cái cơ hội mua xảy rakhi đường giá nằm trên đường xu hướng này. Đường xu hướng tăng giá nhằm giúp đỡnhà đầu tư kiểm tra lại tín hiệu mua của thị trường bằng cách: đường giá dichuyển gần sát hay phía dưới đường xu hướng tăng và sau đó nó hồi phục vàchuyển động theo hướng lên trên đường xu hướng tăng.

- Ngược lại nếu đường xu hướng tăng bị gãy thì nó sẽ cho tín hiệu bán khi đườnggiá cắt qua đường xu hướng hướng tăng và có hướng đi xuống.
2.Đường xu hướng giảm (downtrend):

a. Cấu tạo:
Nếuđường giá đang chuyển động giảm ta vẽ 1 đường thẳng nối các điểm cao nhất củađường giá và kéo dài ra cho đến ngày hiện hành, ta được 1 đường xu hướng giảm.Nối càng nhiều điểm thì đường xu hướng này càng chính xác. Đường này có ý nghĩalà: hướng đi tòan bộ của 1 xu hướng. Nó có thể đo được xu hướng bị gãy như thếnào.
b.Sử dụng:

- Đường giá luôn nằm dưới đường xu hướng này, đâu là cơ hội mua tốt nhất củathị trường trong tương lai.

- “ Tăng theo bậc thang, giảm dần theo độ cao”. Với ý nghĩa như vậy khi thịtrường đang đi xuống là vô cùng nguy hiểm đối với những nhà đầu tư vì họ sẽ cónhững cuộc mua bán hết lớn trong giai đọan này. Nó giống như công việc đóngđinh vậy: khi đóng 1 cái đinh to thì chúng ta phải đóng thật chậm

- Nhưng khi thị trường đi xuống , xu hướng này sẽ kết thúc khi có sự giao dịchlớn và ít biến động, thông thường thì chúng ta phải chờ cho đến khi đường xuhướng bị gãy trước khi nói rằng xu hướng cũ đã kết thúc. Xu hướng xuống bị gãykhi giá nằm phía dưới đường xu hướng và chuyển động vượt qua đường xu hướng.nhưng phải cẩn thận với các bẫy của người bán; cái bẫy này là hiện tượng muanhiều tạo ra tại 1 thời điểm và đường giá vượt đường xu hướng trong khỏang thờigian ngắn nhất định, sau đó lại tiếp tục xu hướng xuống chứ không phải thật sựlà bị bẻ gãy đường xu hướng.

Moving Average Convergence/Divergence (MACD - Đường trung bình hội tụ/phân kỳ)

Giới thiệu
Được phát triển bởi Gerald Appel, Moving Average Convergence/Divergence (MACD) là một trong những công cụ hữu dụng đáng tin cậy và đơn giản nhất. MACD sử dụng các đường trung bình là các công cụ trễ (lagging indicators) có các đặc tính của công cụ theo sau xu hướng. Các công cụ trễ được biến thành xung dao động (momentum oscillator) bằng cách trừ đường trung bình dài với đường trung bình ngắn. Kết quả được vẽ thành các đường kẻ dao động trên và dưới mức 0 và không có giới hạn giá trị cao nhất hay thấp nhất. MACD là một “centered oscillator”.
Công thức tính MACD
Công thức thông dụng nhất cho MACD chuẩn là chênh lệch giữa đường EMA 26-day và đường EMA 12-day. Đây là công thức được sử dụng trong nhiều chương trình phân tích kỹ thuật thông dụng. Công thức này có thể thay đổi để phù hợp hơn với những cổ phiếu có biến động nhanh hơn hoặc chậm hơn. Sử dụng các đưòng trung bình ngắn hơn sẽ cho đáp ứng nhanh hơn, trong khi sử dụng các đường trung bình dài hơn sẽ cho đáp ứng chậm hơn. Trong phần này, chúng ta sẽ sử dụng đường MACD 12/26.
Hai đường trung bình tạo thành đường MACD gồm đường EMA 12-days là đường nhanh và đường EMA 26-days là đường chậm. Giá đóng được dùng để tạo thành các đường trung bình. Đường EMA 9-days được sử dụng để cắt đường MACD. Một “bullish crossover” xuất hiện khi đường MACD chuyển lên bên trên đường EMA 9-days và một “bearish crossover” xuất hiện khi đường MACD chuyển xuống bên dưới đường EMA 9-days. Đồ thị của Merrill Lynch (MER) bên dưới gồm đường EMA 12-days (màu xanh) và đường EMA 26-days (màu đỏ). Đường MACD hiển thị bên khung dưới (màu đen) và đường EMA 9-days màu xanh (khung dưới). Các histogram là độ chênh lệch giữa đường MACD và đường EMA 9-days. Các histogram có giá trị dương khi đường MACD nằm trên đường EMA 9-days và có giá trị âm khi đường MACD nằm dưới đường EMA 9-days.

Công dụng của MACD
MACD đo độ chênh lệch giữa 02 đường EMA. Đường MACD có giá trị dương cho biết đường EMA 12-days bên trên đường EMA 26-days và đường MACD có giá trị âm cho biết đường EMA 12-days bên dưới đường EMA 26-days. Nếu đường MACD có giá trị dương và đang hướng lên thì khoảng trống giữa đường EMA 12-days và đường EMA 26-days đang mở rộng. Điều này cho biết tốc độ biến động của đường trung bình nhanh cao hơn so với tốc độ biến động của đường trung bình chậm. Giá trị MACD dương và tăng lên cho biết giá đang tăng. Nếu đường MACD có giá trị âm và đang hướng xuống thì khoảng trống giữa đường EMA 12-days và đường EMA 26-days đang mở rộng. Giá trị MACD âm và giảm xuống cho biết giá đang giảm.

Đồ thị Merrill Lynch (MER) thể hiện đường MACD là đường đen đậm và đường mảnh là đường EMA 9-day. Mặc dù đường trung bình là công cụ báo hiệu trễ, đường MACD biến động nhanh hơn đường trung bình. Trong ví dụ này đường MACD cho một số tín hiệu giao dịch tốt :
    1. Trong tháng 3 và 4, MACD đi xuống và tạo một “negative divergence” (phân kỳ)
    2. Trong tháng 5 và 6, MACD bắt đầu mạnh lên và tạo các đáy cao hơn trong khi các đường trung bình tiếp tục tạo các đáy thấp hơn.
    3. Cuối cùng, MACD tạo thành một “positive divergence” trong tháng 10 khi các đường trung bình tiếp tục tạo các đáy mới
Báo hiệu lên của MACD
MACD tạo tín hiệu lên với 03 dạng chính như sau :
  1. Positive Divergence
  2. Bullish Moving Average Crossover (Đường trung bình cắt nhau hướng lên)
  3. Bullish Centerline Crossover (cắt đường giữa hướng lên)
Positive Divergence

Một Positive Divergence xảy ra khi MACD bắt đầu hướng lên và giá vẫn đang đi xuống. MACD có thể tạo nhiều đáy cao hơn đáy trước đó hoặc chỉ một đáy thứ hai cao hơn đáy trước. Positive Divergence là tín hiệu ít xảy ra nhất trong 03 tín hiệu nhưng nó thường đáng tin cậy hơn và thường báo hiệu cho biến động lớn nhất.
Bullish Moving Average Crossover

Các đường trung bình cắt nhau xảy ra khi đường MACD chuyển lên trên đường EMA 9-day của nó. Đường trung bình cắt nhau là tín hiệu phổ biến nhất và do đó ít tin cậy nhất. Nó thường được sử dụng kết hợp chung với các công cụ phân tích kỹ thuật khác để tránh các báo hiệu lỗi. Đôi khi đường trung bình cắt nhau được sử dụng để xác định cho một Positive Divergence. Một Positive Divergence sẽ có giá trị khi đường trung bình cắt nhau sau khi đường MACD tạo đáy thứ hai cao hơn đáy trước.
Đôi khi để đảm bảo đường trung bình cắt nhau chắc chắn bạn cần kiểm tra giá, ví dụ bạn sẽ mua nếu giá giữ cho MACD cắt lên trên đường EMA 9-day được 03 ngày.
Bullish Centerline Crossover

Cắt đường giữa xảy ra khi MACD chuyển lên trên đường 0 và nằm trên vùng dương. Đây là một dấu hiệu rõ cho thấy xung lượng thay đổi từ âm sang dương, hoặc từ xuống sang lên. Sau một tín hiệu Positive Divergence, Bullish Centerline Crossover có thể xem như là một tín hiệu củng cố. Trong 03 báo hiệu, MACD cắt đường giữa là báo hiệu phổ biến thứ nhì.
Sử dụng kết hợp các tín hiệu

Mặc dù một số trader có thể chỉ sử dụng một trong các tín hiệu ở trên để làm tín hiệu mua hoặc bán, nhưng việc kết hợp các tín hiệu có thể cho bạn tín hiệu bảo đảm hơn. Trong ví dụ cổ phiếu HAL, cả 03 báo hiệu xuất hiện và giá đi lên 20%. Giá tạo một đáy thấp hơn vào cuối tháng 2, nhưng MACD tạo thành đáy cao hơn do đó tạo thành Positive Divergence. MACD sau đó tạo thành một Bullish Moving Average Crossover khi cắt lên trên đường EMA 9-day. Và cuối cùng MACD vượt qua đường 0 hình thành tín hiệu Bullish Centerline Crossover. Vào thời điểm này giá là 32.25 và sau đó đi lên đến 40.
Báo hiệu xuống của MACD
MACD tạo tín hiệu xuống với 03 dạng chính ngược với tín hiệu lên như sau :
  1. Negative Divergence
  2. Bearish Moving Average Crossover (Đường trung bình cắt nhau hướng xuống)
  3. Bearish Centerline Crossover (cắt đường giữa hướng xuống)
Negative Divergence
Một Negative Divergence hình thành khi giá tăng hoặc biến động sideway và MACD thì đi xuống. Một Negative Divergence trong MACD có thể có dạng một đỉnh thấp hơn đỉnh trước hoặc là một đường xuống. Các Negative Divergence thường ít phổ biến nhất trong ba báo hiệu nhưng độ tin cậy cao nhất và là báo hiệu một đảo chiều đi xuống.


Đồ thị của FedEx (FDX) thể hiện một Negative Divergence khi MACD tạo thành một đỉnh thấp hơn đỉnh trước đó trong tháng 5, và giá tạo thành một đỉnh cao hơn. Đây là một Negative Divergence báo hiệu xung lượng đang yếu đi. Vài ngày sau đó, giá phá thủng đường xu hướng lên và MACD tạo thành một đáy thấp hơn.
Có 02 cách củng cố cho một Negative Divergence. Thứ nhất, công cụ có thể tạo một đáy thấp hơn. Đây là cách phân tích “đỉnh và đáy” truyền thống. Với đỉnh thấp hơn và theo sau đáy thấp hơn, xu hướng lên đối với MACD đã chuyển từ hướng lên thành hướng xuống. Thứ hai, một Bearish Moving Average Crossover (giải thích bên dưới) có thể củng cố cho negative divergence. Khi MACD bứt xuống dưới đường EMA 9-day, nó báo hiệu xu hướng ngắn hạn đang bị yếu đi và một đỉnh tạm thời có khả năng hình thành.
Bearish Moving Average Crossover
Báo hiệu phổ biến nhất đối với MACD là đường trung bình cắt nhau. Một Bearish Moving Average Crossover xảy ra khi MACD giảm xuống dưới đường EMA 9-day. Không những là một tín hiệu phổ biến nhất mà đây còn là dạng báo hiệu lỗi nhiều nhất. Vì vậy đường trung bình cắt nhau nên được củng cố bằng tín hiệu khác để tránh lỗi.


Đôi khi giá có thể có xu hướng lên mạnh và MACD sẽ giữ trên đường EMA trong thời gian dài và không thể hình thành một Negative Divergence. Khi này cần một tín hiệu khác để xác định khả năng thay đổi trong xung lượng. Đây chính là trường hợp cổ phiếu Merck (MRK) trong tháng 2 và 3, giá đi lên mạnh và MACD giữ bên trên đường EMA 9-day trong 7 tuần. Khi một Bearish Moving Average Crossover xảy ra, nó báo hiệu xung lượng của xu hướng lên đang yếu đi. Xu hướng đảo chiều được củng cố khi giá phá vỡ đường xu hướng lên và MACD tiếp tục đi xuống qua đường zero.
Bearish Centerline Crossover
Một Bearish Centerline Crossover xảy ra khi MACD di chuyển xuống bên dưới đường zero và đi vào vùng âm. Trường hợp này cho thấy xung lượng đã chuyển từ dương sang âm hay từ xu hướng lên thành xu hướng xuống. Một tín hiệu centerline crossover có thể sử dụng độc lập hoặc dùng để củng cố cho một tín hiệu khác. Khi MACD đi xuống vùng âm thì ít nhất trong ngắn hạn xung lượng đã chuyển sang xu hướng xuống.

Nếu MACD có giá trị dương trong nhiều tuần, sau đó bắt đầu đi xuống và chuyển xuống vùng giá trị âm thì đây là báo hiệu đi xuống. Tuy nhiên, nếu MACD có giá trị âm trong vài tháng, sau đó vượt lên trên đường zero rồi quay lại xuống vùng giá trị âm thì đây có thể là một pha hiệu chỉnh (correction). Trong trường hợp này, để xác định ý nghĩa của centerline crossover, kỹ thuật phân tích truyền thống có thể sử dụng là kiểm tra xu hướng có thay đổi hay không (đỉnh sau cao hơn đỉnh trước hoặc đáy sau thấp hơn đáy trước).
Đồ thị Unisys (UIS) mô tả một Bearish Centerline Crossover, giá giảm 25% sau khi tín hiệu xuất hiện (nằm ngòai hình trên):
  • Sau khi giá đẩy xuống dưới đường hỗ trợ, một Bearish Moving Average Crossover hình thành.
  • Khi giá bậc trở lên, MACD không vượt qua được đường EMA cho thấy xung lượng lên yếu đi.
  • Tại đỉnh giá đi xuống tạo thành một shooting star (mũi tên xanh) và một gap xuống kèm với volume tăng vọt (mũi tên đỏ).
  • Sau gap xuống, đường xu hướng lên màu xanh bị phá vỡ.
Kết hợp các tín hiệu
Như một báo hiệu MACD hướng lên, các báo hiệu hướng xuống có thể được kết hợp để tạo thành một báo hiệu chắc chắn hơn. Trong phần lớn các trường hợp, giá cổ phiếu xuống nhanh hơn lên. Trong trường hợp giá cổ phiếu Unisys (UIS) chỉ có 02 tín hiệu MACD xuất hiện.

Trong năm 2002, giá của Intel (INTC) giảm từ trên 36 xuống dưới 28 trong vài tháng. Hãy xam diễn biến trong hình :
  • Trong tháng 12, một negative divergence hình thành trong MACD.
  • Chaikin Money Flow chuyển xuống vùng giá trị âm vào ngày 21/12.
  • Cũng trong tháng 12, một Bearish Moving Average Crossover xuất hiện trong MACD (mũi tên đen).
  • Đường xu hướng kéo dài từ tháng tháng 10 bị phá vỡ vào ngày 20/12.
  • Một Bearish Centerline Crossover xuất hiện trên MACD vào ngày 10/02/2002 (mũi tên xanh).
  • Ngày 15/02, mức hỗ trợ 31.5 bị phá vỡ (mũi tên đỏ)
Năm 1986, Thomas Aspray đã phát triển MACD-Histogram. Aspray nhận thấy rằng độ trễ của MACD đôi khi làm bỏ lỡ những biến động quan trọng, đặc biệt là khi sử dụng trên đồ thị tuần. Đầu tiên Aspray thử nghiệm bằng cách thay đổi các đường trung bình và phát hiện rằng các đường trung bình ngắn hơn báo hiệu nhanh hơn. Tuy nhiên, ông ấy đang tìm kiếm cách để đóan trước MACD crossover. Và từ đó ông ấy phát triển MACD-Histogram.

Định nghĩa và cấu trúc
MACD-Histogram thể hiện sai biệt giữa đường MACD và đường EMA của nó. Vẽ độ sai biệt này ra chúng ta sẽ có một histogram.
Nếu giá trị MACD lớn hơn giá trị của EMA 9-day thì giá trị của MACD-Histogram sẽ dương. Ngược lại, giá trị MACD nhỏ hơn giá trị của EMA 9-day thì giá trị của MACD-Histogram sẽ âm.
Thêm nữa, khỏang cách giữa MACD và đường EMA tăng hay giảm sẽ phản ánh trên đường MACD-Histogram. MACD-Histogram tăng lên cho thấy MACD đang lên nhanh hơn EMA và xung lượng lên đang mạnh. MACD-Histogram giảm xuống cho thấy MACD đang xuống nhanh hơn EMA và xung lượng xuống đang mạnh.

Trên đồ thị, chúng ta có thể thấy MACD-Histogram biến động tương đối độc lập với MACD. Đôi khi MACD đi lên trong khi MACD-Histogram đi xuống. Một số trường hợp khác, MACD đi xuống trong khi MACD-Histogram đi lên. MACD-Histogram không phản ánh giá trị chính xác của MACD mà nó phản ánh quan hệ giữa MACD và EMA 9-day. Thông thường, nhưng không phải luôn luôn, một biến động trên MACD được báo trước bởi một phân kỳ tương ứng trên MACD-Histogram.
  1. Điểm thứ nhất cho thấy một sharp positive divergence trong MACD-Histogram báo trước một Bullish Moving Average Crossover.
  2. Trên điểm thứ hai, MACD tiếp tục tạo đỉnh mới nhưng MACD-Histogram tạo các đỉnh bằng nhau. Mặc dù không phải là trường hợp Positive Divergence chuẩn, các đỉnh bằng nhau củng cố sức mạnh của MACD.
  3. Một Positive Divergence hình thành khi MACD-Histogram tạo thành đáy cao hơn đáy trước và MACD tiếp tục thấp hơn.
  4. Một Negative Divergence hình thành khi MACD-Histogram tạo thành đỉnh thấp hơn đỉnh trước và MACD tiếp tục cao hơn.
Sử dụng
Thomas Aspray thiết kế MACD-Histogram như một công cụ để tiên đoán đường trung bình cắt nhau trong MACD. Phân kỳ giữa MACD và MACD-Histogram là công cụ chính để tiên đóan các đường trung bình cắt nhau. Một Positive Divergence trong MACD-Histogram cho biết MACD đang mạnh và có thể sắp xuất hiện một Bullish Moving Average Crossover. Một Negative Divergence trong MACD-Histogram cho thấy MACD đang yếu, và nó báo hiệu một Bearish Moving Average Crossover trong MACD.
Trong cuốn Technical Analysis of the Financial Markets John Murphy khẳng định rằng công cụng tốt nhất của MACD-Histogram là xác định khỏang trống giữa MACD và EMA rộng hay hẹp. Nói chung, một khỏang trống rộng cho thấy xung lượng đang mạnh và một khỏang trống hẹp cho thấy xung lượng đang yếu. Thông thường một biến động trong MACD-Histogram sẽ báo trước biến động trong MACD.
Báo hiệu
Báo hiệu chính tạo bởi MACD-Histogram là một phân kỳ theo sau đó là đường trung bình cắt nhau. Một báo hiệu lên được tạo khi một Positive Divergence hình thành và có một Bullish Centerline Crossover. Một báo hiệu xuống được tạo thành khi có một Negative Divergence và một Bearish Centerline Crossover. Một centerline crossover trên MACD-Histogram thể hiện một moving average crossover trên MACD.
Phân kỳ có nhiều dạng và mỗi dạng có giá trị khác nhau. Nhìn chung, 02 dạng phân kỳ được xác định là : slant divergence và  peak-trough divergence

Slant Divergence
Slant Divergence tạo thành khi có một biến động đều liên tục theo một hướng để tạo thành một phân kỳ. Slant Divergence thường tạo trong khung thời gian ngắn hơn so với phân kỳ tạo thành với hai đỉnh hoặc hai đáy. Một Slant Divergence có thể chứa vài chỗ khuyết nhỏ (đỉnh hay đáy).

Peak-Trough Divergence
Một peak-trough divergence xảy ra khi có ít nhất hai đỉnh hoặc đáy hình thành theo một hướng để tạo thành phân kỳ. Một lọat hai hay nhiều đáy cao lên có thể tạo thành một Positive Divergence và một lọat hai hay nhiều đỉnh thấp xuống có thể tạo thành một Negative Divergence. Peak-trough Divergence thường thấy trong khung thời gian dài hơn so với slant divergence.

Kiến thức cơ bản

PHẦN I: Biểu đồ nến Nhật

PHẦN II: HỖ TRỢ/KHÁNG CỰ

PHẦN III: XU HƯỚNG -TREND

PHẦN IV: FIBONACCI

PHẦN V: ĐƯỜNG TRUNG BÌNH DI ĐÔNG -MOVING AVARAGE

PHẦN VI: CÁC INDICATOR THÔNG DỤNG

PHẦN VII: NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ VỐN

PHẦN VIII: PHÂN TÍCH CƠ BẢN

PHẦN IX: CHIA SẺ KINH NGHIỆM GIAO DỊCH

PTKT nâng cao: Mô hình Ichimoku

Chiến thuật giao dịch-Trading Rule

Thư giãn