Showing posts with label Forex căn bản. Show all posts
Showing posts with label Forex căn bản. Show all posts

Sunday, 26 December 2010

Lịch sử hình thành phân tích kĩ thuật

Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một người tên là Charles H. Dow.Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal). Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian đó. William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật. Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
 Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật 
Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ. 
            (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)
Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế.
Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế giữa cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.
Vậy “Phân tích kỹ thuật” là gì? Nhiều nhà quan sát coi Phân tích kỹ thuật là một tập hợp những mánh khóe và cần đến sự tập luyện nghiêm túc thực sự. Những người vận dụng kết quả sau quá trình tập luyện ấy còn được gọi là “pháp sư”. Nhiều người hiểu về tính đúng đắn của công việc này nhưng họ vẫn đặt ra câu hỏi về tính chính xác trong dự báo các xu thế chính trên thị trường chứng khoán và thị trường các loại hàng hóa khác. Bản thân trong những người sử dụng Phân tích kỹ thuật cũng không có một sự thống nhất về quan điểm về bản chất của Phân tích kỹ thuật vì Phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một khoa học mà cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.
Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả thuyết căn bản trong Phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể.
Ta sẽ xem xét một số định nghĩa đã được đưa ra về Phân tích kỹ thuật :
Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá”. Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương đương với phân tích cơ bản - là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng hóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗi ngành,…"
Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:
“Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường “
Clifford Pistolese đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyết định đầu tư”
R. W. Schabacker, người cha đẻ của Phân tích kỹ thuật hiện đại đã mô tả Phân tích kỹ thuật như “một môn khoa học mới”. Schabacker giải thích rằng tất cả những yếu tố phân tích cơ bản  hợp lý đều mang đến tình trạng thị trường di xuống và chúng được đánh giá, tự động đưa vào và lưu lại trong các mức cân bằng thực trên biểu đồ chứng khoán. Ông còn mô tả sâu hơn đặc tính của biểu đồ cổ phiếu hay biểu đồ các loại hàng hóa khác như là một bộ nhớ hoàn hảo của thị trường và khẳng định chắc chắn rằng giá trị chủ yếu của một biểu đồ giá vượt ra ngoài ý nghĩa thực tế là một bức tranh ghi lại những giao dịch trong quá khứ. 
Định nghĩa cụ thể của Schabacker như sau:
Việc Phân tích kỹ thuật các biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở những hiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tố trong phân tích cơ bản và các yếu tố khác.
Trên thực tế Phân tích kỹ thuật có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểu một cách đối lập lại với việc xem xét theo trường phái phân tích cơ bản. Khía cạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối quan tâm đặc biệt vào những yếu tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm năng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kế toán, sức mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, …Các yếu tố kĩ thuật là những gì có thể được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”
 
Còn theo Edward và Magee thì:
“Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách “Technical Analysis of Stock Trend” của Edward và Magee lại được tái bản tới 8 lần, đây là quyển sách mang tính đầy đủ nhất và cơ bản nhất khi tìm hiểu về Phân tích kỹ thuật , vì vậy để có thể hiểu rõ thì rất cần nghiên cứu kĩ cuốn sách này. ở đây sẽ trích dẫn thêm một số đoạn nhằm giúp người đọc hiểu kĩ hơn ”…những nhà Phân tích kỹ thuật luôn phát biểu với lý luận đầy đủ còn lượng thông tin, dữ liệu mà phân tích cơ bản nghiên cứu là quá cũ và không con giá trị sử dụng. Bởi vì tâm lý thị trường không quan tâm đến quá khứ và thậm chí là cả hiện tại, thị trường luôn hướng về phía trước, cố gắng phản ánh những tăng trưởng trong tương lai, xem xét đo lường và làm cân bằng tất cả những ước lượng, dự đoán của hàng trăm nhà đầu tư - những người cùng nhìn vào tương lai nhưng dưới những góc độ hoàn toàn khác nhau và với những cặp kính nhiều màu sắc. Tóm lại, giá thị trường được tạo lên bởi bản thân thị trường, bao gồm tất cả những thông tin thuộc về cơ bản mà những nguời phân tích thống kê muốn tìm hiểu cùng với nhiều những nguồn thông tin khác có tầm quan trọng ngang hoặc lớn hơn nhiều…”
Edward và Magee còn đưa ra 4 điểm căn bản sau về Phân tích kỹ thuật:
·         Giá trị thị trường của một chứng khoán được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa cung và cầu.
·         Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần thiết khác để tạo thành sự cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những điều này mà thị trường sẽ tự thực hiện.
·         Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
·         Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường biến động.
Cuối cùng ta sẽ xem xét định nghĩa của Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A to Z”:
“Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”
Xét cho cùng định nghĩa về Phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy còn cụ thể bản chất, cách thực hiện sẽ được nghiên cứu ở các phần tiếp theo đặc biệt là phần lý thuyết Dow.

Monday, 20 December 2010

Tìm hiểu về hiệp hội NFA

Cũng như khi bạn mua 1 căn nhà hay 1 chiếc xe với sự kiểm tra kĩ lưỡng nhà sản xuất, và hiểu rõ các điều khoản của hợp đồng, tại sao bạn lại tham gia thị trường Forex mà không xem xét kĩ sàn giao dịch, hợp đồng tài khoản và các giấy tờ kèm theo truớc khi hoàn tất hợp đồng.
Những năm gần đây Forex đã trở nên phổ biến và là sự lựa chọn hấp dẫn cho các nhà đầu tư – và cũng không tránh khỏi 1 số bất cập trong thị trường, đặc biệt là những ý đồ xấu lợi dụng thị trường Forex để kiếm tiền một cách không chính đáng từ người khác. Người chơi phải cẩn trọng và chú ý đến những thủ đoạn lừa gạt, mưu đồ xấu và chú ý đối với những công ty tư vấn – các nhà môi giới vì mục đích lấy commission nên luôn quảng cáo rằng người chơi có thể kiếm được rất nhiều tiền với một rủi ro thấp. Hầu hết các quảng cáo trực tiếp, báo chí hay Internet chú trọng đến việc lôi kéo khách hàng, chào hàng bằng việc tuyên truyền rằng có những cơ hội đầu tư với lợi nhuận cao, rất ít hoặc không có rủi ro trong thị trường kinh doanh ngoại hối phần lớn sẽ mang mục đích lừa gạt hoặc đặt điều. Những cơ hội “phi thực tế” thật sự không tồn tại.
Ủy ban CFTC (Commodity Futures Trading Commission) của Mỹ là một trung gian thuộc liên bang Mỹ có trách nhiệm điều chỉnh hoạt động giao dịch ngoại hối, giao dịch hợp đồng tương lai và quyền chọn ( Futures and Options ) đối với các tổ chức đặt trụ sở tại Mỹ và thực thi những biện pháp chống lại các công ty hoạt động đáng ngờ , trái pháp luật và gian lận trong việc kinh doanh các dịch vụ trong thị trường Forex và thị trường giao dịch Futures và Options. Hoạt động của tổ chức CFTC có quyền lực pháp lý trong việc kiểm tra và truy tố các hoạt động gian lận và mánh khóe trong thị trường Forex , đưa ra những qui định chặt chẽ và kiểm soát hoạt động củacác thành viên. Các công ty trụ sở tại Mỹ khi hoạt động trong thị trường Forex không là thành viên của CFTC sẽ không nằm trong lĩnh vực hoạt động tài chính và được xem là bất hợp pháp, và có thể là các công ty gian lận hoặc mánh khóe.
Chỉ có những chủ thể đã có đăng kí, như ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các nhà giao dịch, nhà môi giới, các tổ chức và chi nhánh liên quan có thể tham gia thị trường Forex, mới được giới thiệu thị trường này đến các khách hàng cá nhân. Những chủ thể đăng kí FCM (Futures Commission Merchant) đã tham gia ủy ban CFTC (Commodity Futures Trading Commission) và là thành viên của hiệp hội NFA (National Futures Association) của Mỹ được xem là đã đăng kí với thị trường ngoại hối Mỹ.
Thành viên đăng kí NFA và phải minh bạch về tài chính đối với khách hàng của mình, NFA không qui định thành viên phải đóng góp tài chính cho tổ chức của mình, và không có điều khoản nào thành viên thu phí hoa hồng từ người chơi và thu phí như thế nào. Trước khi mở 1 tài khoản, bạn nên kiểm tra 1 vài công ty khác nhau để so sánh giá cả và dịch vụ của họ . Một vài công ty có thể thu phí commission, hoặc tăng thêm điểm spread giữa giá mua và giá bán để thu về lợi nhuận. Tuy nhiên các công ty thu khoản phí cộng thêm ( phí commission + chênh lệch điểm spread cao ) chênh lệch nhiều so với các công ty khác có thể là các công ty gian lận và phi thương mại.
NFA có quyền và nghĩa vụ bảo vệ người giao dịch ngoại hối khỏi các hoạt động gian lận và mánh khóe trọng thị trường Forex. Các công ty môi giới – các sàn giao dịch phải có trách nhiệm đối với các hoạt động dịch vụ của mình. Hơn nữa, qui định của NFA bắt buộc các thành viên quản lý tất cả các hoạt động của mình và của các đối tác – môi giới để đảm bảo người tham gia và sử dụng dịch vụ của các thành viên NFA tránh khỏi các hoạt động gian lận và phi thương mại.
Bạn phải kiểm tra sàn giao dịch của mình có được đăng kí hay không, đăng kí tổ chức nào và vào lúc nào để đảm bảo họ không có bất cứ vấn đề gì về gian lận hoặc phi thương mại. Trước khi mở tài khoản, bạn vào địa chỉ http://www.nfa.futures.org/basicnet/ để kiểm tra xem sàn giao dịch của bạn có là thành viên của NFA hay không.  Bạn cũng nên tìm hiểu sàn xem có các qui định tuân theo các điều khoản NFA đặt ra cho thị trường Forex hay không.
Cũng như khi bạn mua 1 căn nhà hay 1 chiếc xe với sự kiểm tra kĩ lưỡng nhà sản xuất, và hiểu rõ các điều khoản của hợp đồng, tại sao bạn lại tham gia thị trường Forex mà không xem xét kĩ sàn giao dịch, hợp đồng tài khoản và các giấy tờ kèm theo truớc khi hoàn tất hợp đồng.
Đừng bao giờ trở thành nạn nhân của sự lường gạt, mánh khóe hay các thủ đoạn phi thương mại khi đầu tư vào thị trường Forex.
Nếu bạn có vấn đề gì với tài khoản của bạn
Trục trặc ( hoặc bất đồng về 1 vấn đề nào đó) đôi khi sẽ xảy ra trong bất kì lĩnh vực nào. Trong trường hợp có vấn đề với tài khoản của bạn, bước đầu tiên của bạn là hãy liên lạc với sàn giao dịch nơi bạn kí hợp đồng để trao đổi và thỏa thuận giải quyết vấn đề . Cả CFTC và NFA đều sẵn lòng và đều có biện pháp hỗ trợ bạn trong việc đảm bảo an toàn cho tài khoản chơi Forex của bạn. NFA và CFTC đều chấp nhận việc bạn khiếu kiện cho dù không có sự đồng ý của sàn giao dịch, và NFA hỗ trợ việc cung cấp cho bạn trọng tài phân xử. Thông tin về NFA và trọng tài phân xử có thể gọi điện theo số 800 -621 - 3570 hoặc mục Dispute Resolution tại webite của NFA www.nfa.futures.org .

Các giờ hoạt động của thị trường

- Thị trường forex mở cửa 24 giờ mỗi ngày, nhưng không có nghĩa là thị trường đều hoạt động tích cực trong 24 giờ. Bạn có thể kiếm tiền khi thị trường đi lên hoặc bạn cũng có thể kiếm tiền khi thị trường đi xuống. Tuy nhiên, thời điểm rất khó khăn để kiếm tiền đó là khi thị trường không biến động. Bài học này sẽ giúp bạn xác định được khi nào là thời điểm tốt nhất trong ngày để giao dịch.
- Trước khi xem những thời điểm tốt nhất trong ngày để giao dịch, chúng ta hãy xem xem thế nào là một thị trường forex hoạt động 24 giờ. Thị trường forex có thể được phân thành 3 phiên giao dịch chính: phiên giao dịch Tokyo, phiên giao dịch London, và phiên giao dịch Mỹ. Bảng dưới đây là các giờ đóng cửa và mở cửa của thị trường forex:
- Bạn có thể thấy giữa mỗi phiên giao dịch là khoảng thời gian mà ở đó 2 phiên giao dịch được mở cùng thời điểm. Từ 3-4 a.m EST, cả thị trường London và Tokyo đều mở cửa, và từ 8-12 p.m EST, cả thị trường London và Mỹ đều mở cửa. Đây thường là những thời điểm náo nhiệt nhất trong thị trường bởi vì lượng tiền được giao dịch nhiều hơn khi có 2 thị trường được mở cùng thời điểm.
- Như bạn thấy, phiên giao dịch London biến động mạnh nhất.
Bây giờ, chúng ta hãy xem xem những ngày nào trong tuần giao dịch tốt nhất…

Những ngày tốt nhất để giao dịch
Như chúng ta biết, phiên giao dịch London là náo nhiệt nhất trong tất cả các phiên giao dịch, nhưng cũng có những ngày trong tuần, toàn bộ thị trường đều biến động mạnh hơn. Dưới đây là biểu đồ biên độ điểm trung bình đối với 4 cặp tiền tệ chính được giao dịch mỗi ngày trong tuần:
Bạn có thể thấy 4 cặp tiền tệ chính biến động nhiều nhất trong khoảng thời gian trung tuần. Ngày thứ 6 thường náo nhiệt cho đến 12pm EST, sau đó thị trường lắng dịu trở lại cho đến khi đóng cửa vào lúc 5pm EST. Điều này có nghĩa là thị trường chỉ hoạt động ½ ngày thứ 6. Thời điểm náo nhiệt nhất chính là thời điểm tốt nhất để giao dịch bởi vì cơ hội thành công của chúng ta sẽ cao hơn.
Còn nếu bạn muốn mất tiền, thì đây là những thời điểm phù hợp đối với bạn…
Nếu muốn mất tiền, bạn nên giao dịch khi nào?
Nếu bạn thực sự không muốn giao dịch vào những thời điểm thị trường náo nhiệt hơn khi mà lượng tiền giao dịch và sự biến động điểm là lớn nhất và ở đó, bạn sẽ kiếm tiền dễ dàng hơn, có nghĩa là bạn muốn tự do giao dịch vào những thời điểm được đề cập dưới đây. Chúng tôi chắc chắn đây là những thời điểm khó khăn hơn để giao dịch!
Thứ 6: Thứ 6 là một ngày khó lường trước được mọi thứ. Đây là một ngày tốt để giao dịch nếu bạn muốn mất đi toàn bộ lợi nhuận mà mình kiếm được trong suốt một tuần.

Chủ nhật: Đây là ngày mà thị trường ít biến động nhất. Hãy giao dịch nếu bạn muốn bắt đầu một tuần giao dịch với số điểm ÂM.
Những ngày nghỉ: Ngân hàng đóng cửa, nghĩa là lượng tiền giao dịch rất ít vì một quốc gia nào đó đang nghỉ lễ. Những ngày nghỉ là thời gian tốt nhất để giao dịch nếu bạn muốn mất tiền hơn là muốn được nghỉ ngơi và muốn làm những gì tốt đẹp cho cuộc sống của mình.
Các bản tin: Không ai có thể biết được giá sẽ đi về đâu khi các bản tin được công bố. Bạn có thể mất đi toàn bộ tài sản trong thời gian công bố tin tức nếu như bạn chẳng biết mình đang làm gì. Giá cả hành động như một con khỉ say xỉn trong khoảng thời gian này và mọi người không thể lường trước được.
Nếu không thể giao dịch trong những giờ thị trường náo nhiệt?
Bạn sẽ làm gì nếu không thể giao dịch trong những giờ náo nhiệt của thị trường? Nếu bạn đang sống trong một múi giờ không hấp dẫn hoặc phải làm việc ở cơ quan cả ngày thì bạn không thể ngồi trước máy vi tính trong những giờ thị trường náo nhiệt nhất được. Nếu thế, đây là những giải pháp dành cho bạn:
Dịch chuyển vào múi giờ tốt hơn: Chuyển đến London chẳng hạn. Bạn phải bắt đầu một cuộc sống mới nhưng ít nhất là bạn có thể giao dịch đúng không?
Giao dịch tại cơ quan (phải đảm bảo là bạn có một công việc “thực sự” nào đó, phòng trường hợp ông chủ đến sau lưng và hỏi bạn đang làm gì). Chúng tôi giới thiệu luôn cho bạn tổ hợp phím ALT-TAB (nếu bạn đang dùng Windows) để bạn có thể nhanh chóng tắt windows ngay lập tức. Đây là cách đối phó với ông chủ của bạn.
Trở thành một nhà đầu tư theo xu hướng trung hạn (swing trader) hay một nhà đầu tư theo xu hướng dài (position trader). Là một swing trader hay position trader, bạn không phải liên tục kiểm soát thị trường và có thể kiểm tra nó hay quan sát khi nào bạn ngưng công việc ở cơ quan.
Giao dịch một phiên khác, thậm chí đó không phải là phiên giao dịch náo nhiệt nhất. Nếu bạn không thể giao dịch phiên London hay Mỹ, bạn có thể giao dịch phiên Tokyo. Tuy nhiên, bạn phải giữ nguyên tắc và giao dịch phiên này mỗi ngày. Bạn phải bắt đầu nghiên cứu cách biến động của nó và phát triển các chiến lược đặc trưng cho phiên giao dịch đó.
Chúng tôi nghĩ đây là 3-4 chọn lựa tốt nhất cho bạn, nhưng quyền lựa chọn là nằm ở bạn.

Thậm chí nếu bạn không thể giao dịch, quan sát các biểu đồ của một phiên giao dịch cũng là cách hay. Bằng cách quan sát biến động giá diễn ra như thế nào, bạn có thể hiểu được câu chuyện thực của một loại tiền tệ. Quan sát biểu đồ đang hoạt động rất khác so với việc quan sát các biểu đồ đã có.
Thậm chí nếu bạn thực sự không thể giao dịch thì trong lúc quan sát các biểu đồ đang hoạt động, hãy ghi chú vào đầu thời điểm bạn sẽ vào giao dịch. Thực hành sẽ làm cho mọi thứ hoàn hảo và càng thực hành nhiều, bạn càng dễ đạt được điều đó.
Như vậy, chúng tôi đã đưa ra nhiều thời điểm giao dịch tốt nhất trong ngày nhưng quyền lựa chọn vẫn nằm ở bạn. Tất cả những gì bạn cần làm bây giờ là phải quyết định kiếm tiền theo cách dễ dàng hơn hay kiếm tiền theo cách khó khăn hơn.
Tóm lại, những thời điểm tốt nhất để giao dịch là:

  • Khi hai phiên giao dịch gối đầu nhau: 3-4 am EST, 8-12 pm EST
  • Phiên giao dịch London náo nhiệt nhất so với 2 phiên còn lại
  • Trung tuần thị trường biến động mạnh nhất.
Và những thời điểm xấu nhất để giao dịch:
  • Các ngày thứ 6
  • Các nhà chủ nhật
  • Ngày nghỉ

Chỉ số Dollar U.S (USDX)

Ch s Dollar U.S ( USDX) là gì?
Nếu bạn đang kinh doanh chứng khoán, những chỉ sổ như Dow Jones Industrial Average (DJIA), NASDAQ Composite, Russell 2000, S&P 500, Wilshire 5000, và Nimbus 2001 chẳng phải xa lạ gì. Ồ! Đợi một chút nào. Thật ra chỉ số sau cùng còn trông giống như cái cán chổi thần kì của Harry Potter nữa chứ.
Đấy bạn thấy không nếu chứng khoán U.S. có chỉ số thì đồng Dollar U.S cũng thế. Do vậy những ai kinh doanh tiền tệ như chúng ta đều gắn kết với chỉ số Dollar U.S (viết tắt là USDX)
Chỉ số Dollar U.S. là trung bình trọng lượng của những đồng ngoại tệ trong cùng một “rổ” so với đồng Dollar.
Thôi nào! Có lẽ tôi phải quay trở lại vấn đề trước khi bạn bắt đầu buồn ngủ với mớ định nghĩa nhùng nhằng này, hãy cùng nhau bắt tay phân nhỏ nó ra nhé!
Thật ra nó cũng tương tự như cách bạn thấy các chỉ số cổ phiếu chạy hoạt động cho chúng ta biết tổng quát tình hình giá trị của các cổ phiếu chứng khoán. Dĩ nhiên lúc này “chứng khoán” mà chúng ta đề cập ở đây chính là những đồng tiền lớn khác trên thế giới.
Khái nim “r
Chỉ số Dollar U.S. liên quan đến sáu ngoại tệ:
1. Đồng Euro (EUR)
2. Đồng Yên (Nhật)
3. Bảng Anh (Anh)
4. Đồng Loonie (Canada)
5. Đồng Kronas (Thụy Điển)
6. Đồng Francs (Pháp)
Còn đây là một một câu hỏi có 1 bẫy nhỏ: Nếu chỉ số được cấu thành từ 6 đồng ngoại tệ, vậy theo bạn cả thảy có bao nhiêu quốc gia liên quan?
Bạn nào trả lời “6” vậy, thành thật chia buồn cùng bạn: “Trật rồi!” . Vậy có ai đáp “17” không? Bạn quả là một thiên tài.
Đáp án đúng phải là “17”. Có lẽ bạn đã quên mất rằng Cộng đồng chung Châu Âu có cả thảy là 12 thành viên sau đó mới cộng thêm 5 quốc gia khác nữa (gồm Nhật, Anh, Canada, Thụy Sĩ và Thụy Điển)
Rõ ràng 17 quốc gia chỉ chiếm một phần nhỏ trên thế giới song rất nhiều đồng tiền khác phải theo sát chỉ số Dollar U.S. Chính điều này khiến USDX trở thành công cụ rất tốt để đo lường sức mạnh toàn cầu của đồng Dollar U.S.
Lại thêm một điều thú vị nữa đây: khi đồng Euro rớt giá, theo bạn chỉ số Dollar U.S. sẽ di chuyển như thế nào?
Đồng Euro chiếm một tỉ lệ lớn trong cấu thành chỉ số Dollar U.S., thậm chí có thể gọi nó là “chỉ số phản Euro”. Bởi USDX bị tác động cực mạnh từ đồng Euro, mọi người đang mong đợi một chỉ số Dollar “cân bằng” hơn. Mặc dù vậy, không chỉ đơn giản có thế.
Đc ch s Dollar U.S. như thế nào?
Đây là biểu đồ của U.S. Holler tại chỉ số đồng Dollar:
Đầu tiên, hãy chú ý chỉ số luôn được tính toán suốt 24 giờ 1 ngày, 7 ngày trong 1 tuần. USDX đo lường giá trị tổng quát của đồng Dollar tương ứng với mức cơ bản là 100,000. Hừ! Khó hiểu rồi đấy!
OK! Ví dụ, hiện tại bạn đọc thấy con số trên biểu đồ là 86.212. Nó có nghĩa đồng Dollar đã rớt 13.788% kể từ lúc khởi đầu của chỉ số. (86.212 – 100.000)
Nếu bạn đọc thấy 120.650 nghĩa là giá trị của đồng Dollar đã tăng 20.650% kể từ lúc khởi đầu của chỉ số. (120.650 – 100.000)
Thời điểm khởi đầu của chỉ số là vào tháng 3 năm 1973. Đó là lúc những quốc gia lớn nhất thế giới ngồi lại với nhau tại thủ đô Washington và tất cả đồng ý cho phép đồng tiền của họlưu hành tự do qua lại lẫn nhau. Khởi đầu của chỉ số còn được xem là “thời kì nền tảng”
Công thc tính ch s Dollar U.S.
Đây là công thức dài ngoằn nhưng đòi hỏi tính chặt chẽ cao đấy. Không đơn giản tí nào!
USDX = 50.14348112 x EURUSD^(-0.576) x USDJPY^(0.136) x GBPUSD^(-0.119) x USDCAD^(0.091) x USDSEK^(0.042) x USDCHF^(0.036)
Cũng có một loại chỉ số dollar khác được Federal Reserve sử dụng gọi là “chỉ số trade-weighted U.S. Dollar”
Fed muốn tạo ra một chỉ số có thể phản ánh giá trị đồng dollar so với các ngoại tệ chính xác hơn dựa trên khả năng cạnh tranh hàng hóa của Mỹ so với các quốc gia khác.
Khác biệt chính giữa chỉ số USDX và traded-weighted dollar index nằm ở rổ riền tệ được sửdụng và trọng lượng liên quan của chúng. Trọng lượng này dựa trên số liệu thương mại hằng năm.
Các đng tin và trng lượng ca chúng:
Đây là trọng lượng hiện tại của chỉ số:
Khu vực EURO 18.08
Canada 16.293
Nhật 10.035
Mexico 9.823
Trung Quốc 13.377
Vương Quốc Anh 4.822
Đài Loan 2.755
Hàn Quốc 4.047
Singapore 2.061
Hồng Kông 2.035
Mã Lai 2.11
Brazil 1.955
Thụy Sĩ 1.412
Thái Lan 1.416
Philippines 0.825
( Được đo lường vào  December 15, 2005 )
Để biết thêm thông tin về các chỉ số tỉ giá giao dịch của US.dollar, xem "Indexes of the Foreign Exchange Value of the Dollar"
Bảng đánh giá sứ mạnh của các chỉ số có thể tìm thấy tạihttp://www.federalreserve.gov/releases/H10/Weights

Tìm hiểu về Vàng và các loại giá: Spot price- future price

Vàng với tư cách là một khoản đầu tư đã tồn tại cùng với chứng khoán và các loại hàng hoá khác góp phần quan trọng trên thị trường thế giới.
VÀNG VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT LOẠI HÀNG HOÁ
Ngày nay, giống như tất cả các loại đầu tư khác, giá vàng bị ảnh hưởng bởi cung cầu, gồm cả đầu cơ và bán tháo. Nhưng không giống như các loại hàng hoá khác, đầu cơ và bán tháo đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều đối với giá vàng. Điều này xảy ra do hầu hết vàng từng được khai mỏ vẫn còn tồn tại và vẫn có khả năng đi vào thị truờng.

Theo Hội đồng Vàng Thế giới, sản lượng vàng khai mỏ hàng năm trong vài năm qua gần mức 2,500 tấn. Khoảng 3,000 tấn đi vào sản xuất răng hoặc công nghiệp, khoảng 500 tấn đi vào đầu tư lẻ và các quỹ vàng. Điều này có nghĩa là nhu cầu vàng hàng năm là khoảng 1000 tấn và vượt quá sản lựong khai mỏ.


Các ngân hàng trung ương và Quỹ Tiền tệ Quốc tế đóng 1 vai trò quan trọng trong giá vàng. Cuối năm 2004, những tổ chức này đã giữ 19% vàng trên toàn thế giới. Hiệp ước Vàng Washington có hiệu lực từ tháng 9/199 đã hạn chế doanh số bán ra của các thành viên trong hiệp ước này (gồm châu Âu, Mỹ, Nhật, Australia, Ngân hàng Thanh toán Quốc tế và Quỹ Tiền tệ Quốc tế.) xuống còn 400 tấn một năm. Những ngân hàng trung ương của châu Âu như Ngân hàng Anh, Ngân hàng Quốc gia Thuỵ Sỹ là những ngân hàng bán vàng chủ yếu trong suốt thời gian này.


Dù các ngân hàng trung ương nhìn chung không thông báo mua vàng trước, một vài ngân hàng như của Nga đã bày tỏ ý muốn dự trữ vàng từ cuối năm 2005.

VÀNG VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT KHOẢN ĐẦU TƯ

Tuỳ vào từng loại hàng hoá mà giá giao ngay có thể cho biết kỳ vọng của hoạt động giá giao tương lai theo nhiều phương thức khác nhau. Với chứng khoán hoặc các loại hàng hoá không hỏng như vàng, giá giao ngay phản ánh kỳ vọng của hoạt động giá giao tuơng lai. Trên lý thuyết, theo mẫu chi phí vận chuyển, sự khác nhau giữa giá giao ngay và giá giao sau sẽ bằng với chi phí tài chính cộng với bất kỳ khoản thu nào do nguời giữ chứng khoán. Ví dụ như một cổ phiếu, giá khác nhau giữa giá giao ngay và giao sau thuờng được tính gần bằng bất kỳ cổ tức nào

Trong tất cả các kim loại quý, vàng là khoản đầu tư phổ biến nhất. Các nhà đầu tư thường mua vàng phòng chống rủi ro trước khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội và tiền tệ. Những cuộc khủng hoảng này gồm có đầu tư thị trường đi xuống, lạm phát, chiến tranh và xung đột xã hội. Các nhà đầu tư cũng mua vàng trong thời gian thị trường đầu cơ đi lên.

GIÁ GIAO NGAY- GIAO TƯƠNG LAI

Spot price hay spot rate của một loại hàng hoá, chứng khoán hay tiền tệ là giá đưa ra đối với settlement ( sự chi trả hay giao hàng) ngay lập tức (spot). Giao hàng spot thuờng là 1 hoặc 2 ngày kinh doanh so với ngày giao dịch.

Điều này ngược lại với giá giao sau (forward price) trong hợp đồng kỳ hạn (forward contract) hay hợp đồng tương lai (future contract). Trong các loại hợp đồng này, giá được thoả thuận lúc này nhưng giao hàng và trả tiền xảy ra vào một thời điểm trong tương lai.

Hoạt động "carry trade"

Carry trade là gì?
Carry trade là việc vay hoặc mua các công cụ tài chính với lãi suất thấp, sau đó dùng nó để mua các công cụ tài chính có lãi suất cao hơn. Khi bạn trả lãi suất thấp hơn cho công cụ tài chính bạn bán hay thuê, bạn có thể thu được mức lãi suất cao hơn với công cụ tài chính bạn mua. Do đó, lợi nhuận mà bạn thu được từ họat động này xuất phát từ mức chênh lệch lãi suất.

Ví dụ như, bạn vay ngân hàng $10,000, lãi suất mỗi năm 1%. Với số tiền này, bạn mua trái phiếu với lãi suất 5%. Vậy lợi nhuận bạn thu được sẽ là 4%/năm, đó chính là mức chênh lệch giữa 2 lãi suất.

Carry trade hoạt động như thế nào trong thị trường hối đoái?
Trong thị trường hối đoái, các loại tiền tệ được trao đổi theo các cặp (ví dụ như, khi bạn mua cặp USD/CHF, nghĩa là bạn cùng lúc mua USD và bán france Thụy Sĩ). Tương tự như vậy, bạn trả lãi suất cho đồng tiền bạn bán và thu lãi suất từ đồng tiền bạn mua.


Điều khiến carry trade đặc biệt trong thị trường tỷ giá là quá trình trả tiền lời diễn ra mỗi ngày giao dịch tùy theo giao dịch của bạn.


Các nhà môi giới đóng và mở các giao dịch, sau đó họ ghi nợ theo chênh lệch lãi suất qua đêm giữa 2 đồng tiền.

Phương pháp đòn bẩy từ các nhà môi giới đã giúp các hoạt động carry trade trở nên phổ biến trong thị trường hối đoái. Giao dịch hối đoái hoàn toàn dựa trên ký quỹ, nghĩa là bạn chỉ cần phải tạo ra lượng giao dịch nhỏ, sau đó nhà môi giới sẽ tạo ra phần còn lại.

Ví dụ: Hoàng có $10,000. Nếu gửi ngân hàng, anh ta có thể thu được lãi suất 1%/năm. Nếu đầu tư vào thị trường hối đoái, trước tiên Hoàng lập một tài khoản thực và gửi $10,000 vào đó, sau đó Hoàng tìm một cặp tỷ giá có chênh lệch lãi suất là 5%/năm. Anh ta mua $100,000 giá trị của cặp tỷ giá. Do nhà môi giới chỉ yêu cầu kí quỹ 1% giao dịch, họ giữ $1,000. Do đó, Hoàng hiện tại nắm giữ cặp tiền tệ có giá trị $100,000 với lãi suất 5%/năm.

Nếu Hoàng không làm gì với tài khoản này trong vòng 1 năm? Có 3 khả năng xảy ra:

  • Giao dịch mất giá trị. Cặp tỷ giá mà Hoàng mua mất giá trị mạnh. Nếu như thua lỗ làm tài khoản giảm xuống mức kí quỹ, giao dịch bị đóng và tài khoản chỉ còn đúng khoản kí quỹ $1,000.
  • Cặp tỷ giá này kết thúc với lãi suất không đổi vào cuối năm. Trong trường hợp này, Hoàng không thu được hay mất đi bất cứ giá trị nào của giao dịch, song anh ta thu được lãi suất 5% từ $100,000. Tức là chỉ tính riêng tiền lĩa Hoàng thu được $5,000 từ $10,000 ban đầu.
  • Giao dịch tăng giá trị. Cặp tỷ giá mà Hoàng chọn liên tục tăng. Do đó, anh ta sẽ không những kiếm được $5000 từ lợi tức, mà còn có thể có thêm các khoản lời khác.
Do có mức đòn bẩy 100:1, Hoàng có khả năng kiếm được khoản lãi suất 50%/năm từ số tiền $10,000 ban đầu.

Rủi ro trong carry trade
Như trong ví dụ trước, rủi ro lớn nhất của Hoàng là mất đi $9000. Giao dịch của anh ta sẽ tự động bị đóng khi thua lỗ đạt tới $9000.


Khi thực hiện một giao dịch, bạn vẫn có thể giới hạn mức thua lỗ giống như các laọi giao dịch thông thường khác. Ví dụ như, khi Hoàng muốn giới hạn rủi ro ở $1000, anh ta có thể đặt lệnh dừng ở bất cứ mức giá nào mà thua lỗ tại đó là $1000.


Tiêu chuẩn của carry trade
Muốn tìm thấy cặp tỷ giá phù hợp để carry trade, bạn cần chú ý đến 2 điểm

  • Tìm cặp tỷ giá có mức chênh lệch lãi suất cao
  • Tìm cặp tỷ giá đang có xu hướng đi lên – tức là đồng tiền bạn mua đang tăng giá trị so với đồng tiền bạn bán.
Ví dụ:

Tới thời điểm 11/01/2006, BoJ đang duy trì lãi suất là 0.25%, trong khi, trong số các nước có đồng tiền mạnh, BoE có lãi suất khá cao, khoảng 4.75%. Nhiều nhà đầu tư đã để ý đến cặp tỷ giá này. Từ cuối năm 2000 đến giữa năm 2006, cặp tỷ giá này đã tăng từ 150 lên 223, tương đương với 7300 điểm. Nếu kết hợp yếu tố này với mức chênh lệch tỷ giá của 2 đồng tiền, cặp tỷ giá này đã trở thành điểm đầu tư dài hạn cho nhiều nhà giao dịch để tránh những lên xuống thất thường trong thị trường tiền tệ.


Dĩ nhiên, các yếu tố chính trị và kinh tế đang hàng ngày thay đổi thế giới. Lãi suất và chênh lệch lãi suất giữa các đồng tiền cũng sẽ thay đổi khiến cho carry trade JPY không còn hấp dẫn với nhà đầu tư.


Kết luận
Trong thị trường forex, có một cách kiếm lời mà bạn không phải mua rẻ bán đắt, điều khó có thể thực hiện trong điều kiện hiện nay. Với một chiến lược giao dịch đúng đắn, bạn có thể tăng tài khoản của mình lên một khoản không nhỏ thồng qua hoạt động carry trade.

Friday, 17 December 2010

Hướng Dẫn Giao Dịch trên Phần Mềm MT4 ( Metatrader4 )

1.Thông tin tài khoản được thể hiện ở cửa sổ Trade Terminal:
- Tab Trade thể hiện các giao dịch đang mở.
- Tab Account history thể hiện các giao dịch đã tất toán (đóng lệnh).
- Ngoài ra còn có các tab khác: news (cập nhật tin tức tài chính thế giới), Alerts (cảnh báo), Mailbox (hòm thư), Experts (chuyên gia), Journal (nhật ký Giao dịch) a
2. Đặt lệnh giao dịch, đóng lệnh, sửa và xóa lệnh:

* Lệnh thị trường(Istant Excution):

Là loại lệnh cho phép bạn khớp ngay với mức giá hiện có trên thị trường

- Các cách đặt lệnh:

C1: Để đặt lệnh cho 1 giao dịch Bạn click chuột vào tab New Order, sẽ hiển thị màn hình ở dưới, chọn type là Istant Execution để đặt lệnh, Mua chọn Buy, bán chọn Sell. Như trong màn hình dưới ví dụ đặt mua Volume 0.5 lot tức là khối lượng mua là 0.5 lot, với giá là 952.25

C2: nhấn phím F9

Những điều cần biết trước khi tham gia giao dịch

Trước khi đi vào sâu hơn về các công cụ đánh giá thị trường, chúng tôi chân thành chia sẻ với bạn một số cảnh báo với mong muốn bạn nhìn rõ hơn về hoạt động giao dịch ngoại hối:
ce1bab7p-dollarTất cả người giao dịch, không trừ 1 ai, đều đã từng thua lỗ trong giao dịch. 90% người giao dịch thất bại trong những lần chơi đầu tiên, phần lớn do thiếu kế hoạch và kinh nghiệm, thiếu khả năng quản lý tiền và kiểm soát rủi ro.
Giao dịch ngoại hối không dành cho người thất nghiệp, người có thu nhập thấp, không có khả năng thanh toán chi phí. Bạn phải có ít nhất từ $2500 – $5000 trong tài khoản (mức thấp nhất mà các sàn giao dịch khuyến cáo với các tài khoản Standard) mà bạn có thể chấp nhận thua lỗ nếu bạn muốn thật sự tham gia thị trường Forex.
Thị trường giao dịch ngoại hối là thị trường phổ biến nhất đối với các chuyên gia, do qui mô khổng lồ, và do biến động mạnh mẽ của các khuynh hướng thị trường. Nhiều người chơi không thành công thường cho rằng mình thiếu may mắn, nhưng thật sự do họ thiếu tính kỉ luật để tuân thủ những nguyên tắc cần thiết trong giao dịch. Hầu hết mọi người đều không thể giữ cho mình những qui định ngặt nghèo về giảm cân hay đến tập thể hình mỗi ngày. Nếu bạn cũng giống như họ, bạn có nghĩ bạn sẽ thành công với thị trường này?
Giao dịch ngoại hối không phải là trò chơi của những tay nghiệp dư và cũng không phải là con đường dễ dàng để thành công. Bạn không thể tạo được lợi nhuận khổng lồ nếu không chấp nhận khả năng rủi ro tương tự. Một chiến lược chơi tốt là lường trước được rủi ro và nâng cao hiệu suất thành công mỗi giao dịch. Một người giao dịch thành công phải có chiến lược chơi – trừ khi bạn muốn trở thành 1 người “cờ bạc” để giàu có !
Giao dịch ngoại hối không phải là phương pháp làm giàu nhanh chóng!
Kĩ năng giao dịch ngoại hối tốt đòi hỏi nhiều thời gian công sức mới rèn luyện được. Người giao dịch có kĩ năng tốt có thể và có tiềm năng cao để làm giàu từ lĩnh vực này. Tuy nhiên, cũng giống như các công việc và ngành nghề khác, thành công không thể dến trong 1 sớm 1 chiều.
Thị trường Forex không phải là “miếng bánh khổng lồ” như 1 số người vẫn thường hay ca tụng với bạn. Sự thật là đôi khi vẫn có những người giao dịch giàu kinh nghiệm vẫn gặp phải 1 số tình huống xấu đẫn dến thua lỗ. Không có con dường tắt nào trong thị trường này, và bạn phải chuẩn bị trước thời gian, công sức và kể cả thua lỗ trước khi trở thành 1 chuyên gia trong lĩnh vực này.
Chìa khóa của thành công không gì thay thế được sự đam mê và cần cù đối với việc nghiên cứu tìm hiểu thị trường Forex. Hãy thực tập kĩ lưỡng với tài khoản ảo trước khi bạn bắt đầu với tài khoản mini rồi mới đến tài khoản thật.
Và bạn dừng quá nôn nóng mở tài khoản thật trước khi bạn đã giao dịch thật tốt trên tài khoản ảo. Và nếu bạn không thể chờ đợi việc giao dịch trên tài khoản ảo thật tốt ít nhất 2 tháng, và nếu bạn không kiên nhẫn được, tốt nhất bạn nên chọn lĩnh vực kinh doanh khác.
Tập trung vào 1 loại cặp tiền tệ chính
Sẽ phức tạp nếu nghiên cứu quá nhiều cặp tiền tệ khi bạn mớt bắt đầu chơi. Hãy chọn loại cặp tiền tệ nào có điểm spread ít nhất và độ dao động cao ( như EUR/USD hay USD/JPY) để tập trung giao dịch trong thời gian đầu.
Bạn có thể là người thành công với giao dịch tiền tệ, nhưng cũng như những ngành kinh doanh khác, nó đòi hỏi sự đầu tư công sức, sự đam mê, 1 chút may mắn, khả năng phán đoán, và những quyết định đúng đắn.
Chúc bạn thành công !

Làm thế nào để lựa chọn sàn giao dịch tốt?

Trước khi bắt đầu giao dịch thật sự, công việc đầu tiên của bạn là thiết lập 1 tài khoản với sàn giao dịch thông qua môi giới. Vậy thế nào là sàn giao dịch ? Nói 1 cách dễ hiểu đây là 1 công ty / tổ chức giúp bạn đặt lệnh mua bán với thị trường. Họ sẽ được hưởng lợi từ phí thiết lập tài khoản và phí giao dịch.
Bạn sẽ bị bối rối bởi rất nhiều công ty giao dịch hoạt động trực tuyến chào mời. Vì vậy để quyết định “chọn mặt gửi vàng” cho khoản tiền của mình, bạn cần bỏ chút thời gian công sức tìm hiểu thông tin về các công ty này, và nhờ đó bạn sẽ đánh giá chính xác hơn về lợi thế cũng như dịch vụ họ hỗ trợ cho bạn.
Những qui định về sàn giao dịch Forex?
Khi tìm một sàn phù hợp, bạn nên tìm những công ty đã được đăng kí. Forex về cơ bản là thị trường hoạt động tự do. Tuy nhiên, tại Mỹ và tại trung tâm tài chính lớn trên thế giới, các sàn giao dịch phải được đăng kí như là một Futures Commission Merchant (FCM) của tổ chức Commodity Futures Trading Commission (CFTC) và là thành viên của NFA. Hoạt động của CFTC và NFA nhằm mục đích đảm bảo người giao dịch tránh mọi hoạt động gian lận, mánh khóe, và các hành vi lừa gạt.
Bạn có thể kiểm tra xem công ty giao dịch của bạn đã đăng kí CFTC và là thành viên của NFA chưa bằng cách tìm hiểu thông tin công ty trên website của NFA www.nfa.futures.org
Chúng tôi khuyên bạn nên chọn các công ty đã đăng kí và và có những hoạt động giao dịch tư vấn hợp pháp. Luôn nói không với các công ty không là thành viên của NFA.
Dịch vụ khách hàng
Forex là thị trường 24/24, và cần thiết phải có hỗ trợ 24/24! Bạn có thể liên lạc với hoạt động của công ty giao dịch bằng điện thoại, email, chat hay không? Họ có đủ kiến thức để trả lời câu hỏi của bạn không? Chất lượng phục vụ sẽ khác nhau tùy sàn giao dịch, nhưng bạn phải tìm hiểu chúng và sự hỗ trợ của chún trước khi quyết định mở tài khoản.
Một mẹo nhỏ dành cho bạn: Lựa chọn một vài sàn giao dịch và gửi mail yêu cầu hồ trợ, Bạn hãy xem bao lâu họ trả lời cho bạn và mức độ nhiệt tình của họ. Nếu bạn cảm thấy không phải chờ đợi lâu và vừa lòng với câu trả lời, bạn có thể tin tưởng làm việc với sàn giao dịch. Nhưng cũng nên chú ý, điều quan trọng là sự hỗ trợ của sàn khi bạn bắt đầu giao dịch chứ không phải trước khi giao dịch.
Phần mềm giao dịch:
Hầu hết, nhưng không phải tất cả các sàn giao dịch đều hỗ trợ bạn phần mềm giao dịch online hiệu quả. Nền tảng của phần mềm giao dịch là giúp bạn đặt lệnh mua bán được dễ dàng nhất. Vì vậy một phần mềm tốt rất quan trọng. Bạn nên chú ý đến phần mềm nào dễ sử dụng và thuận tiện nhất đối với bạn, nên thử trước thông qua tài khoản ảo đối với 1 vài sàn để lựa chọn được vừa ý nhất.
Chú ý đến chế độ hiển thị của phần mềm. Nó phải hỗ trợ bạn phương thức quan sát biến động tỉ giá, cập nhật nhanh chóng thông tin và hỗ trợ quản lý tiền cho bạn, cho phép bạn kiểm soát lợi nhuận/thua lỗ, mức kí quĩ và báo động khi bạn đến gần mức đóng tài khoản.
Hầu hết các sàn đều hoạt động trực tuyến, trên phần mềm Java hoặc phần mềm chuyên biệt giúp bạn cài đặt trên máy. Một sỗ phần mềm còn hỗ trợ cá nhân hóa giúp bạn lựa chọn chế độ hiển thị tốt nhất. Bên cạnh đó việc download dễ dàng sẽ giúp bạn giao dịch trên bất kì đâu có thể kết nối Internet.
Phần mềm cài đặt sẽ giúp bạn cá nhân hóa, và khả năng cập nhật thông tin nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, tuy nhiên bạn phải cài đặt trên máy cá nhân của mình để lưu giữ thông tin. Những phần mềm Java lại có thể giúp bạn chơi trực tuyến trực tiếp trên mạng.
Xin nhắc lại, bạn phải lựa chọn phần mềm nào thuận tiện nhất và phù hợp với công việc hiện tại của mình.
Đường truyền Internet tốc độ cao
Thị trường Forex hoạt động liên tục và biến động từng giây, vì vậy bạn cần thông tin cập nhật dữ liệu liên tục để đưa ra quyết định kịp thời. Vì vậy hãy chắc rằng bạn đang có đường truyền Internet tốc độ cao và không gián đoạn. Nếu không, bạn có thể gặp trục trặc với giao dịch. Đường truyền Dial-up là không hiệu quả , và bạn phải đầu tư cho một máy tính tốt với đường truyền Internet tốc độ cao nếu bạn muốn chơi trong thị trường này.
Hỗ trợ tài khoản Mini
Hầu hết các sàn đều hỗ trợ các tài khoản mini nhỏ hơn 500$. Đây là cách tốt nhất để bạn bắt đầu và thử nghiệm kĩ năng cũng như trình độ của bạn khi làm quen với Forex.
Các dịch vụ của sàn giao dịch
Trước khi lựa chọn sàn, bạn phải xem xét thật kĩ các yếu tố sau:
Các loại cặp tiền tệ: Bạn cần ít nhất 7 loại cặp tiền tệ chính sau: AUD, CAD, CHF, EUR, GBP, JPY, và USD
Phí giao dịch: Phí giao dịch được tính theo Pip. Phí cho giao dịch càng thấp, bạn càng có cơ hội kiếm nhiều lợi nhuận hơn. Nên so sánh điểm pip giữa các sàn với nhau, thông thường các sàn giao dịch tính từ 3-5 pips, khác nhau tùy cặp tiền tệ.
Mức kí quĩ: Mức kí quĩ cho 1 lot càng thấp ( hay tỉ lệ sức bật càng cao), ban càng có cơ hội đạt lợi nhuận khổng lồ và tất nhiên rủi ro càng lớn. Tỉ lệ sức bật thường la 1:100 tương đương mức kí quĩ 1% và hơn nữa. Tỉ lệ này càng cao , mức kí quĩ càng thấp thì sẽ càng có lợi khi mà bạn có trình độ giao dịch và mức quản lý rủi ro tốt.

Tìm hiểu về Pip và Lot

Bài học hôm nay của chúng ta sẽ có liên quan chút ít đến tính toán. Bạn đã được nghe qua về khái niệm “pips” và “lots” ? Bài này sẽ giúp bạn tìm hiểu chi tiết hơn cũng như cho bạn thấy “pips” và “lots” được tính toán như thế nào.
Hãy dành thời gian cho những điều cơ bản này trước. Bạn đừng vội giao dịch nếu như chưa cảm thấy thông suốt về những khái niệm này cũng như bạn cần hiểu rõ về cách tính lời (profit) và lỗ (loss)
PIP là gì ?
forex-pipPip được hiểu là 1 bước giá nhỏ nhất. Nếu tỉ giá EUR/USD từ 1.2250 lên 1.2251, đó là giá đã lên 1 PIP. Bạn sẽ tính toán lời và lỗ dựa trên số pip.
Với mỗi cặp tiền khác nhau, giá trị 1 pip có thể khác nhau. Với mỗi cặp tiền mà USD đứng trước, cách tính như sau :
Đối với cặp USD/JPY, 1 pip bằng 0.01
USD/JPY:
119.90
.01 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.01 / 119.90 = 0.0000834

Con số có vẻ rất dài, đừng lo ngại, chúng ta sẽ nói về lot size sau, và bạn sẽ thấy nó đơn giản hơn..
USD/CHF:
1.5250
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.5250 = 0.0000655

USD/CAD:
1.4890
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.4890 = 0.00006715

Trong trường hợp USD đứng sau trong 1 cặp tiền, chúng ta sẽ phải tính thêm 1 bước
EUR/USD:
1.2200
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.2200 = EUR 0.00008196
nhưng chúng ta cần đổi lại ra USD, vì thế chúng ta thêm 1 bước tính :
EUR x tỉ giá (EUR?USD)
0.00008196 x 1.2200 = 0.00009999
Được làm tròn lên thành 0.0001
GBP/USD:
1.7975
.0001 chia tỉ giá = giá trị 1 pip
.0001 / 1.7975 = GBP 0.0000556
Chúng ta đổi ra USD :
GBP x tỉ giá (GBP/USD)
0.0000556 x 1.7975 = 0.0000998
Được làm tròn lên thành 0.0001
Khi nhìn lại quy trình tính toán trên, bạn tự đặt câu hỏi : tôi phải làm tất cả các bước tính toán này sao ?. Câu trả lời là KHÔNG. Hầu hết các sàn giao dịch sẽ làm việc này cho bạn. Bạn chỉ cần hiểu họ đã làm việc đó như thế nào mà thôi.
Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về Lot size
LOT là gì ?
Giao dịch Forex được thực hiện theo đơn vị LOT. 1 lot chuẩn có giá trị = 100 000 USD. Một lot mini có giá trị 10 000 USD. Như bạn đã biết, mỗi thay đổi nhỏ nhất của tỉ giá được đo bằng đơn vị pip, và để giao dịch tạo ra những khoản lời/lỗ đáng kể, chúng ta cần giao dịch với một khối lượng tiền lớn.
Giả sử bạn giao dịch 1 lot có giá trị 100 000 USD. Chúng ta thử tính vài ví dụ xem khi giao dịch khối lượng 1 lot, thì 1 pip có giá trị thế nào
USD/JPY có tỉ giá 119.90
(.01 / 119.90) x $100,000 = $8.34 mỗi pip
USD/CHF có tỉ giá 1.4555
(.0001 / 1.4555) x $100,000 = $6.87 mỗi pip

Trong trường hợp USD đứng sau trong cặp tiền tệ, công thức có khác đi đôi chút.
EUR/USD có tỉ giá 1.1930
(.0001 / 1.1930) X EUR 100,000 = EUR 8.38 x 1.1930 = $9.99734 làm tròn lên 10 usd / pip

GBP/USD có tỉ giá 1.8040
(.0001 / 1.8040) x GBP 100,000 = 5.54 x 1.8040 = 9.99416 làm tròn lên 10 usd/ pip

Mỗi sàn giao dịch có thể có những quy ước riêng cho việc tính giá trị 1 pip, bạn có thể liên hệ với sàn mình đang giao dịch để biết chính xác giá trị này.
Tính lời và lỗ như thế nào ?
Như vậy bạn đã biết giá trị của pip được tính thế nào, bây giờ bạn sẽ học cách tính lời và lỗ.
Chúng ta mua USD và bán Francs Thụy Sỹ ( BUY USD/CHF)
Tỉ giá đang là 1.4525/1.4530. Vì bạn mua nên sẽ mua tại mức giá 1.4530.
Bạn mua 1 lot 100 000 USD giá 1.4530
Vài giờ sau, tỉ giá lên đến 1.4550 , bạn đã có lời và bạn quyết định thanh khoản giao dịch này.
Tỉ giá mới của USD/CHF là 1.4550/1.4555. Vì ngay từ đầu bạn đã vào lệnh mua, nên bây giờ khi bạn thanh khoản lệnh này, sẽ tương đương như bạn bán ra , vì thế giá bán khớp lệnh là 1.4550
Tỉ giá 1.4530 và 1.4550 chênh lệnh 0.0020 hay còn gọi là chênh lệch 20 pips
Sử dụng công thức mà chúng tôi đã cung cấp ở trên, bây giờ chúng ta có
(.0001/1.4550) x $100,000 = $6.87 per pip x 20 pips = $137.40
Hãy luôn nhớ khi bạn giao dịch vào và ra thị trường, bạn phải chịu thiệt thòi về chênh lệch giá mua/ bán. Khi bạn mua , bạn sử dụng giá ask, khi bạn sell, bạn sử dụng giá bid.
Như vậy khi bạn vào thị trường bằng lệnh Mua, bạn sẽ chịu thiệt spread ngay khi vào thị trường ( giá trên biểu đồ + spread), nhưng đến khi ra thoát khỏi thị trường, bạn sẽ không phải trả spread nữa ( ra đúng giá trên biểu đồ). Ngược lại, khi bạn vào thị trường bằng lệnh Bán, bạn sẽ không chịu thiệt spread lúc vào lệnh ( vào đúng giá spread trên chart), nhưng khi thoát khỏi thị trường, bạn sẽ chịu thiệt spread (giá trên biểu đồ + spread).
Tỉ lệ đòn bẩy là gì ? ( Leverage)
Chắc bạn đang thắc mắc , với một nhà đầu tư nhỏ như bạn, bạn đào đâu ra số tiền 100 000 USD để giao dịch 1 lot. Hãy tưởng tượng sàn giao dịch của bạn lá 1 ngân hàng. Họ cho bạn vay 100 000 USD để mua tiền tệ và chỉ yêu cầu bạn đưa họ 1000 USD tiền đặt cọc. Quá tuyệt đến mức khó tin đúng không ? Đó là sự thật vì Forex cho bạn sử dụng tỉ lệ đòn bẩy.
leverage
Lựa chọn sử dụng tỉ lệ đòn bẩy bao nhiêu phụ thuộc vào việc sàn giao dịch cho phép tỉ lệ nào cũng như bạn cảm thấy tỉ lệ bao nhiêu là phù hợp với bạn nhất.
Thông thường các sàn giao dịch yêu cầu bạn một số vốn tối thiểu để bắt đầu giao dịch. Họ cũng sẽ quyết định số tiền bạn cần đảm bảo trong tài khoản là bao nhiêu để có thể giao dịch 1 lot.
Ví dụ, với mỗi 1000 USD trong tài khoản, bạn được phép giao dịch 1 lot có giá trị 100 000 USD. Như vậy nếu bạn có 5000 USD trong tài khoản, bạn được cho phép giao dịch đến 500 000 USD ( 5 lots).
Số tiền ký quỹ cho mỗi lot sẽ khác nhau tùy theo quy định của từng sàn. Trong ví dụ trên, sàn giao dịch yêu cầu ký quỹ 1% (1:100). Điều đó có nghĩa là cho mỗi giao dịch trị giá 100 000 USD, bạn cần có trong tài khoản 1000 USD để đặt cọc.
Margin Call là gì ?
Trong trường hợp tiền trong tài khỏan của bạn xuống dưới mức yêu cầu đặt cọc, sàn giao dịch sẽ tự động đóng 1 vài hoặc tất cả các lệnh bạn đang giao dịch. Điều này tránh việc tài khoản của bạn còn số âm nếu thị trường giao động ngược chiều với dự đoán của bạn quá xa.
Ví dụ 1 :
Bạn mở 1 tài khoản giao dịch chuẩn ( không phải tài khoản giao dịch lot mini) với số tiền 2500 USD ( thực ra đây là số tiền khá rủi ro cho việc giao dịch lot chuẩn). Bạn giao dịch 1 lệnh EUR/USD với số tiền ký quỹ đặt cọc 1000 USD. Khi bạn chưa vào thị trường, bạn có 2500 USD trong tài khoản, khi bắt đầu giao dịch 1 lot, tiền bạn đã đặt cọc cho 1 lot giao dịch đó là 1000 USD (used margin), như vậy tiền còn có thể đặc cọc tiếp cho các giao dịch tiếp theo là 1500 USD ( usable margin)
Khi giao dịch của bạn bị lỗ xuống hết 1500 USD, bạn sẽ bị margin call ( báo thiếu tiền ký quỹ).
Nhớ chắc chắn rằng bạn đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa used margin và usable margin.
Nếu giá trị tài khoản của bạn (equity) rơi xuống gần hết usable margin vì giao dịch đang bị thua lỗ, bạn cần nạp thêm tiền vào tài khoản để tránh việc giao dịch của bạn sẽ tự động bị thanh khoản.
Vì vậy, khi bạn quyết định giao dịch gần ranh giới margin bắt buộc, bạn cần biết rõ chính sách của sàn giao dịch về số tiền cần ký quỹ.
Việc chọn mức ký quỹ bao nhiêu là một đề tài được tranh luận nhiều, cũng như có những ý kiến cho rằng sử dụng tỉ lệ đòn bẩy càng cao thì càng nguy hiểm. Tất cả phụ thuộc vào cá nhân nhà giao dịch.. Điều quan trọng bạn phải nhớ là cần hiểu về chính sách margin của sàn giao dịch trước khi bắt đầu cũng như hãy giao dịch với một tỉ lệ đòn bẩy mà bạn cảm thấy có thể chấp nhận được rủi ro của nó.
Tỉ lệ đòn bẩy thường được viết dưới dạng tỉ lệ : ví dụ 1:100, 1:200, 1:500. Cũng có một số sàn viết theo cách khác : 200:1 hoặc 100:1.

Những thuật ngữ thường dùng

Thuật ngữ Nghĩa
AUD Đô la Úc
CAD Đô la Canada
EUR Euro
JPY Yên Nhật
GBP Bảng Anh
CHF Franc Thụy Sĩ
Accrual Lợi nhuận sau khi giao dịch kết thúc
Arbitrage Nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ dựa vào sự biến động tỉ giá giữa 1 cặp tiền tệ
At best Chỉ dẫn cho mức giá tốt nhất
At risk Đang có rủi ro và cho thấy nguy cơ thua lỗ
Authorized Dealer Tổ chức tài chính / ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại hối
Average Chỉ số trung bình
Bear Người kỳ vọng thị trường xuống
Bear Market Thị trường xuống
Bull Người kỳ vọng thị trường lên
Bull Market Thị trường lên
Bid / Ask Giá mua / Giá bán
BOJ (Bank of Japan) Ngân hàng quốc gia Nhật
Black Friday Ngày thứ sáu đen tối -> thị trường tài chính rớt giá thảm hại ( những đợt khủng hoảng tiền tệ)
Bretton Woods Accord of 1944 Thỏa ước về trao đổi tiền tệ năm 1944
Broker Người môi giới
Bulge Giá tăng nhanh nhưng chỉ nhất thời
Bundesbank Ngân hàng trung ương Đức
Cable Cặp GBP/USD
Call Rate Tỉ giá lãi xuất qua đêm
Candlestick Chart Biểu đồ thể hiện tỉ giá trong ngày
Cash Delivery Giao dịch trong ngày
Cash Market Thị trường tiền mặt
Cash Reserve Dự trữ tiền mặt
Chartist Chuyên gia phân tích chỉ số và biểu đồ
Commission Khoản phí trả cho môi giới sau mỗi giao dịch
Commodity Price Index (CPI) Chỉ số giá hàng hóa
Conversion currency Tiền có thể tự do chuyển đổi mà không có sự can thiệp đặc biệt của ngân hàng trung ương
Correspondent Bank Ngân hàng được ủy thác
Cross Rate Tỉ giá chéo
Currency Pair 1 cặp tiền tệ tạo nên tỉ lệ hoán đổi ngoại tệ. VD : EUR/USD
Base Currency Loại tiền đứng đầu trong cặp tiền tệ. VD: EUR trong cặp EUR/USD
Counter Currency Loại tiền đứng sau trong cặp tiền tệ. VD: USD trong cặp EUR/USD
Cross Currency Pairs Cặp tiền tệ không bao gồm đồng USD. Vd: GDB/CHF
Currency Risk Rủi ro
Currency Option Hợp đồng với tỉ giá cụ thể
Currency Swaption Sự lựa chọn tham gia TT ngoại tệ
Currency Warrant Giao dịch Long time trên 1 năm
Daily Cutoff Thời điểm giao dịch cuối ngày
Deficit Thâm hụt
DEF Day Trading Giao dịch trong ngày
Depreciation Sự giảm giá
Dollar Rate Tỉ giá đồng USD
Earning The Points Điểm thu được lợi nhuận
Economic Indicator Những chỉ số kinh tế tác động đến tỉ giá hối đoái : tỉ lệ thất nghiệp, GDP, lạm phát…
EMS Hệ thống tiền tệ Châu Âu
End Of Day Order – EOD Lênh đặt mua / bán với giá cố định có hiệu lực cho đến cuối ngày ( 5pm ET )
European Central Bank (ECB) Ngân hàng dự trữ Châu Âu
European Monetary System (EMS) Hệ thống tiền tệ Châu Âu
European Monetary Unit Đồng Euro
European Joint Float Sự thả nổi tiền tệ của Châu Âu ( Smithsonian 1978)
Exchange Rate Risk Nguy cơ thua lỗ
Federal Reserve (Fed) Cục dự trữ liên bang Mỹ
Fed Fund Rate Lãi suất của ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ
Fisher Effect Hiệu ứng Fisher – quan hệ giữa lãi suất và tỉ giá trao đổi
Fixed Exchange Rate Tỉ giá cố định ( thiết lập năm 1944 và tồn tại đến 1970 khi tỉ giá thả nổi được chấp nhận
Flat / Square Không giao dịch
Floating Rate Interest Lãi suất thả nổi
Foreign Exchange (or Forex or FX) Thị trường hoán đổi ngoại tệ ( Thị trường ngoại hối )
Forward Giao dịch trong tương lai
Fundamental Analysis Phân tích biến động thị trường theo kinh tế và theo tin
Futures Market Thị trường hợp đồng futures
Technical Analysis Phân tích biến động thị trường theo kỹ thuật
G7 7 nước công nghiệp dẫn đầu thế giới ( Theo thứ tự) : Mỹ, Đức, Nhật, Pháp, Anh, Canada, Ý
GMT Giờ quốc tế được tính theo giờ London làm mốc
Gross Domestic Product (GDP) Tổng sản phẩm nội địa
Gross National Product (GNP) Tổng sản phẩm quốc gia
Hedging Lệnh bảo toàn rủi ro – chiến lược bù đắp rủi ro đầu tư
High/Low Giá cao nhất và thấp nhất trong ngày ( tính đến thời điểm hiện tại )
Hit the bit Giá được chấp nhận để mua bán theo thị trường
Holding the market Duy trì thị trường ( nghiệp vụ của các ngân hàng)
House Call Lệnh gọi vốn của công ty môi giới
International Monetary Fund (IMF) Quĩ tiền tệ quốc tế ( ra đời năm 1946)
Inflation Lạm phát – Khi giá cả tăng vọt
Initial Margin Số tiền ký quỹ ban đầu cần phải có trong tài khoản
Interbank Rates Lãi suất của ngân hàng Trung ương thế giới
Intervention Sự can thiệp của ngân hàng trung ương
Liability Trách nhiệm khi giao dịch trong thị trường ngoại hối
Limit Order Lệnh giới hạn
Liquidation Sự thanh khoản
Long Position = Buy Vị trí mua
Short Position = Sell Vị trí bán
Lot Giá trị 1 hợp đồng giao dịch.
Margin Tiền ký quĩ
Margin Call Cảnh báo nguy cơ giảm tiền ký quỹ
Maintenance Margin Số vốn tối thiểu trong tài khoản để thực hiện giao dịch
Maturity Ngày thanh khoản
One cancels the other (OCO) Order Lệnh tự hủy khi có 1 lệnh đã được giao dịch
Offset Vị trí đóng, thanh khoản của 1 giao dịch trong tương lai
Overnight Trading Giao dịch qua đêm
Pip (or Points) Điểm – mức nhỏ nhất của 1 đơn vị tiền tệ
Pegged Định giá ( giá di chuyển trong giới hạn cho phép )
Political Risk Sự can thiệp của chính quyền khi có sự gian dối
Profit /Loss or “P/L” or Gain/Loss Khoản lời / lỗ sau khi kết thúc giao dịch
Rally Giá tăng trở lại sau 1 thời gian giảm
Range Phạm vi của giá trần và giá sàn trong 1 giao dịch
Resistance Mức giá trần mong đợi
Revaluation Sự nâng giá
Risk Capital Mức vốn chịu đựng thua lỗ
Rollover Hoán đổi 2 loại đồng tiền bằng tỷ giá.
Secondary Exchange Market (SEM) Thị trường hối đoái thứ cấp ( có hệ thống tỉ giá hối đoái kép)
Settlement Hoán đổi thực của 2 đồng tiền
Soft Market Thị trường yếu khi giá đột ngột giảm
Spot Thị trường trao ngay
Spread Sự khác nhau giữa giá bán và giá mua
Stop Loss Order Lệnh giảm lỗ
Support Levels Mức giá sàn mong đợi
Technical Trader ( Chartist) Người sử dụng biểu đồ, số liệu thị trường biến động trong quá khứ để dự đoán tương lai
Trader = Dealer = Merchant Cá nhân mua bán các loại chứng khoán – tiền tệ
TUV Technical Analysis Phân tích kỹ thuật dựa vào thị trường
Treasury General Account (TGA) Tổng tài khoản ngân khố của ngân hàng trung ương Quốc giá
Two-Way Price Giá 2 chiều
US Prime Rate Giá thông báo của ngân hàng Mỹ
Undervaluation Giá dưới giá trị thực
Value Date Ngày thanh toán
Variation Margin Số tiền cần thiết nạp vào tài khoản cho đủ Margin
Volatility (Vol) Mức biến động giá

Kiến thức cơ bản

PHẦN I: Biểu đồ nến Nhật

PHẦN II: HỖ TRỢ/KHÁNG CỰ

PHẦN III: XU HƯỚNG -TREND

PHẦN IV: FIBONACCI

PHẦN V: ĐƯỜNG TRUNG BÌNH DI ĐÔNG -MOVING AVARAGE

PHẦN VI: CÁC INDICATOR THÔNG DỤNG

PHẦN VII: NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ VỐN

PHẦN VIII: PHÂN TÍCH CƠ BẢN

PHẦN IX: CHIA SẺ KINH NGHIỆM GIAO DỊCH

PTKT nâng cao: Mô hình Ichimoku

Chiến thuật giao dịch-Trading Rule

Thư giãn